Chương 3: Đống quyển hỏng
Ở kinh.
Ngày yết bảng, Lộc không cần chen vào xem. Quyển hỏng bị loại ngay vòng đầu, tên không có trên bảng nào. Anh đứng ở rìa đám đông, nhìn người ta reo hò, khóc, ngất xỉu. Diêu Tử Kỳ đỗ, hạng mười chín. Gã đi một vòng tìm Lộc, không thấy, vì Lộc đã đi về bến Sông Rạch.
Tối hôm ấy, anh viết một lá thư không ai thuê. Lá thư gửi về Cói Bùi, ngắn hơn mọi lá thư anh viết hộ người khác.
Ở nhà.
Lá thư về tới làng sau mười chín ngày, theo một chuyến đò muối. Bà Trình không biết chữ. Bà mang thư sang nhờ ông đồ đọc. Ông đồ đeo kính, đọc thầm một lượt trước, rồi tháo kính ra, lau, đeo vào, đọc thêm một lượt nữa.
– Nó trượt. – Ông nói. – Quyển bị nhòe một chữ, đánh hỏng từ vòng đầu. Nó bảo đêm mưa nó cho người ta mượn tấm chiếu.
Bà Trình ngồi im. Ông đồ chờ bà khóc, hoặc chờ bà mắng. Ông dạy Lộc mười lăm năm, ông biết bà đã bán con lợn nái.
– Nó cho ai mượn? – Bà hỏi.
– Thư không nói. Chỉ nói người lều bên.
– Người ta có đỗ không?
Ông đồ lật lá thư lại.
– Có. Đỗ hạng mười chín.
Bà Trình gật đầu, đứng dậy, cầm lá thư gấp lại bỏ vào túi áo.
– Thế thì chiếu nhà tôi dệt cũng đỗ được một người. – Bà nói, rồi đi về.
Chiều hôm ấy, người làng thấy bà ra bãi cói ngoài đê, cắt một bó cói non to hơn mọi lần.
Ở kinh.
Anh không định về quê ngay. Anh còn nợ chủ trọ hai trăm đồng. Anh viết thư thuê thêm mười ngày nữa, đến ngày thứ bảy thì có một người lính mặc áo nẹp đỏ đến bến, hỏi ai là Trình Văn Lộc ở Cói Bùi.
Người gọi anh là quan Hữu thị lang bộ Công Hàn Thế Xương, phó chủ khảo kỳ thi năm ấy.
Ông Hàn ngồi trong một gian phòng đầy giấy, tóc đã bạc gần hết. Trên bàn ông là quyển thi của Lộc, mở ở trang thứ hai, cái chữ "đê" nhòe một nửa nằm ngay giữa.
– Mỗi khoa, quyển hỏng đem đốt hết. – Ông nói, không mời Lộc ngồi. – Ba mươi năm nay, khoa nào ta cũng đọc qua đống quyển hỏng trước khi đốt. Phần lớn là rác. Thỉnh thoảng có một quyển không phải rác. Chưa quyển nào ta giữ lại được, vì luật là luật.
Ông gõ ngón tay lên trang giấy.
– Đê mềm. Cọc tre, cói đan, đất đổ giữa. Ngươi lấy ở sách nào ra?
– Bẩm, không có trong sách nào. Ông ngoại con đắp đê như thế bốn mươi năm. Mẹ con dệt tấm chiếu che quyển thi của con cũng bằng cách đan cói ấy.
– Tấm chiếu ấy đâu?
– Bẩm, con cho người lều bên mượn, đêm mưa.
Ông Hàn nhìn anh một lúc lâu. Rồi ông bảo người hầu đi mời một người. Người ấy tới, áo the mới, mũ cánh chuồn của tân khoa: Diêu Tử Kỳ, ôm trong tay một cuộn chiếu cói đã khô.
– Hôm qua tân khoa Diêu vào trình với ta, nói đêm mưa có người ném sang cho cậu ta tấm chiếu này. Cậu ta đòi ta xem lại quyển của người ấy. – Ông Hàn nói. – Ta bảo cậu ta, quyển ấy hỏng rồi, ta xem lại cũng không làm nó đỗ được.
Ông trải tấm chiếu ra trên bàn, đổ một gáo nước lên. Nước đọng thành vũng trên mặt chiếu, không thấm xuống.
– Thi Hội thì ngươi trượt. Luật không đổi được. – Ông nói. – Nhưng mùa thu này bộ Công cho đắp lại đoạn đê Hoành Giang ở phủ Nam Xương, gần quê ngươi. Ta cần một thư lại biết chữ mà biết cả đê. Lương tháng ba quan. Khoa sau ngươi thi lại, ta không can thiệp. Ngươi nhận không?
Lộc quỳ xuống. Lần này anh không nói được gì.
Ở nhà.
Cuối tháng chín, làng Cói Bùi có một đoàn người của bộ Công về. Đi đầu là một ông quan già tóc bạc, ngồi kiệu. Đi bên cạnh kiệu, mặc áo thư lại màu xám, tay ôm một cuộn chiếu cói, là Trình Văn Lộc.
Bà Trình đang ngồi bên khung dệt ngoài sân. Bà nhìn thấy con từ đầu ngõ. Bà không đứng dậy. Bà dệt nốt hàng cói đang dở, nén chặt bằng cái go gỗ, rồi mới buông tay.
Ông quan già xuống kiệu, đi tới trước mặt bà, chắp tay vái.
– Thưa bà, ta muốn học cách dệt chiếu.
Bà Trình nhìn ông quan, rồi nhìn con trai. Lộc gật đầu, mắt đỏ hoe.
– Ngồi xuống đây. – Bà nói, đẩy cái ghế đẩu về phía ông quan. – Cói phải chẻ nhỏ thế này này. Chẻ to thì nước vào.
Mùa lũ năm sau, đoạn đê Hoành Giang ở phủ Nam Xương đắp theo lối đê mềm, đứng vững qua ba con nước lớn. Khoa thi sau đó, Trình Văn Lộc đỗ Hội, hạng bốn mươi hai. Lần ấy anh vẫn mang chiếu cói vào trường thi. Không ai cười.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu