Chương 1: Mười lớp vải nâu
Con dâu bà Khúc Thị Liễn đang cắt vải bằng cây kéo lớn của tiệm, và cắt một lúc mười lớp.
Bà đứng ở ngưỡng cửa buồng trong, tay còn cầm nắm rau muống vừa mua ở chợ, nhìn cái cảnh ấy mà tưởng mình hoa mắt. Mười tấm vải nâu chồng lên nhau trên sàn gỗ, mép xếp thẳng như sống dao, ghim lại bằng những cái tăm tre vót nhọn. Trên tấm trên cùng có những đường kẻ bằng than, cong cong như vẽ bùa. Dương Thị Ngà quỳ trên sàn, váy vén lên, hai tay đẩy cây kéo đi theo đường than chậm và đều, tiếng lưỡi kéo nghiến vải nghe như tiếng trâu nhai rơm.
– Con điên rồi à? – bà Liễn hỏi. – Cắt thế lệch một ly là hỏng cả mười tấm.
– Không lệch đâu mẹ, – Ngà nói, không ngẩng lên. – Con ghim chặt rồi.
Ba mươi năm làm vợ rồi làm góa phụ của thợ cả tiệm Khúc Ký ở phố Kim Chỉ, kinh thành Thượng Lâm, bà Liễn chưa thấy ai cắt áo kiểu ấy. Người ta đo từng người, cắt từng áo, mỗi áo một cái tên khách viết vào mảnh giấy ghim ở vạt. Ông nhà bà ngày xưa đo một ông quan phải mất nửa buổi, đo cả vòng bụng lúc no lẫn lúc đói. Ông mất đã năm năm. Tiệm giờ đứng tên Khúc Văn Cát, con trai bà, người có giấy của phường vì là con thợ cả, nhưng cầm kim còn vụng hơn cầm bút, quanh năm đi học trọ chờ khoa thi.
Mà con dâu bà thì từ sau trận sốt mùa xuân đã thành một người khác.
Trước trận sốt, Ngà là một cô gái hiền lành đến nhạt, về làm dâu hai năm chưa có con, nói câu nào cũng nhìn mặt mẹ chồng trước. Ngà biết khâu, nhưng khâu như mọi đứa con gái khác, đủ vá cái áo cho chồng. Trận sốt kéo dài chín ngày. Ngày thứ mười Ngà mở mắt, nhìn quanh buồng rất lâu, rồi hỏi một câu mà bà Liễn nhớ mãi: đây là đâu, sao không có điện. Bà không biết điện là cái gì. Bà mời thầy cúng. Thầy cúng bảo vía con bé đi lạc xa, giờ về rồi, nhưng về muộn nên quên vài thứ.
Ngà quên vài thứ thật. Quên tên mấy bà hàng xóm, quên đường ra chợ. Nhưng có những thứ Ngà biết mà xưa nay không ai dạy. Ngà xé một dải vải dài bằng hai sải tay, cứ một tấc lại thắt một nút to, giữa hai nút to lại thắt chín nút nhỏ, rồi quàng lên cổ suốt ngày như người ta đeo chuỗi hạt. Ngà gọi nó là thước. Ngà đo người bằng cái thước ấy nhanh gấp ba ông nhà bà ngày xưa, miệng lẩm bẩm những tiếng lạ như rập, như cỡ.
Rồi tháng trước, Ngà nhận cái việc này.
Vệ úy Chiêm Đức của đội tuần thành cần một trăm sáu mươi áo kép cho lính tuần đêm, phải xong trước ngày rét đầu mùa, tức là mười hai ngày nữa. Quan trả bốn mươi đồng một áo, vải quan cấp. Bốn mươi đồng thì ba tiệm lớn nhất phường May đều lắc đầu, vì may đo một cái áo kép cho tử tế thì công thợ đã ba mươi đồng. Ba tiệm lớn lắc đầu, viên thư lại của đội tuần đi dọc phố Kim Chỉ, gặp đúng lúc Ngà đứng ở cửa.
Ngà nhận. Bà Liễn biết thì đã muộn.
– Một trăm sáu mươi người, con đo từng người đến bao giờ? – bà hỏi, giọng run.
Ngà đặt cây kéo xuống, đứng dậy, phủi đầu gối.
– Con không đo từng người, mẹ ạ. Con xuống đồn đo ba mươi người rồi.
– Ba mươi người thì sao may được cho một trăm sáu mươi?
– Người ta không khác nhau nhiều như mẹ tưởng đâu. – Ngà tháo cái thước dây trên cổ xuống, căng ra giữa hai tay. – Ba mươi người lính, có mười hai người vòng ngực cỡ này, mười một người cỡ này, bảy người cỡ này. Con may ba cỡ. Lớn, vừa, nhỏ. Lính nào mặc vừa cỡ nào thì lấy cỡ ấy. Vai có rộng một chút cũng không sao, áo kép mặc ngoài, mặc đi tuần chứ có phải mặc vào chầu.
Bà Liễn há miệng định cãi. Rồi bà ngậm lại, vì bà nhận ra mình không cãi được. Ba mươi năm ở phố Kim Chỉ, bà thừa biết lính tuần mặc áo không vừa người là chuyện cả kinh thành ai cũng thấy. Áo quan cấp xưa nay một cỡ, người lùn thì vạt quét đất, người cao thì hở rốn.
– Mà mười hai ngày, – bà vẫn cố, – tiệm mình có ba thợ, ba thợ đàn ông, mỗi người một ngày được một áo là giỏi.
– Con thuê thêm người rồi.
– Thuê ai?
Ngà quay đi, cuộn cái thước lại. Bà Liễn biết câu trả lời trước khi con dâu nói ra.
Ngõ sau phố Kim Chỉ là xóm Cột Cờ, nơi những người đàn bà có chồng là lính chết ở biên ải sống bằng tiền tuất mỗi năm ba quan. Ba quan thì không đủ ăn. Họ nhận đồ về vá, khâu khuy, viền gấu cho các tiệm, giá rẻ như cho, và không ai được đứng tên trên bất cứ cái áo nào. Lệ phường May ghi từ thời tiên đế: hàng quan chỉ tiệm có giấy của phường mới được nhận, người đứng tên tiệm phải là thợ đàn ông đã học việc ba năm. Lệ chỉ ghi vậy. Nhưng cả phường hiểu với nhau rằng hàng quan thì đàn bà không được động tay.
– Chín người, – Ngà nói. – Mỗi người một việc. Người khâu thân, người tra tay, người làm cổ, người viền gấu. Không ai phải may trọn một cái áo. Áo cắt sẵn ở đây, họ mang về nhà, khâu xong mang lại. Mỗi ngày con trả họ tiền ngay.
– Phường mà biết…
– Phường biết rồi mẹ ạ.
Đúng lúc ấy ở ngoài cửa tiệm có tiếng gõ. Ba tiếng gậy gõ xuống bậc đá, chậm rãi, đúng kiểu một người quen được người ta mở cửa cho.
Bà Liễn ra mở. Đứng ngoài là Lỗ Bá Chương, trùm phường May, mặc cái áo the màu lam sẫm mà cả phố gọi là tay nghề Lỗ gia, đi sau là hai ông lão trong hội phường. Ông ta chắp tay chào bà rất lễ phép, gọi bà là chị Khúc như ba mươi năm nay vẫn gọi.
– Chị Khúc, tôi nghe nói tiệm nhà chị nhận áo cho đội tuần thành, lại đem vải ra xóm Cột Cờ cho đàn bà khâu. Có thật không?
Bà Liễn không đáp được. Ngà đứng sau lưng bà, cái thước dây vẫn quàng trên cổ.
– Tôi không đến để làm khó, – Lỗ Bá Chương nói tiếp, giọng ôn tồn. – Lệ là lệ. Ngày giao hàng, hội phường sẽ có mặt ở đồn tuần thành. Nếu áo do người ngoài phường may, hội phải trình với quan, và quan sẽ không nhận. Chị Khúc là người cũ, tôi nói trước để chị liệu.
Ông ta chào rồi đi. Bà Liễn nhìn theo cái áo the lam sẫm khuất dần ở đầu phố, và lần đầu tiên sau nhiều năm, bà nhớ tới làng Vạn Chỉ, nơi bà học khâu năm mười hai tuổi.
— Hết chương 1 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không