Chương 3: Ba giờ sáng
Ba giờ sáng, nhà rung lên như có ai lắc.
Quyện không ngủ. Cô ngồi tựa lưng vào cánh cửa chính, cánh cửa gỗ đã chèn ba bao cát và hai cây tre. Mái tôn trên đầu kêu như có người đi bằng giày đinh. Một cái gì đó, có lẽ là cái bảng hiệu quán tạp hóa đầu ngõ, bay đập vào tường nhà bên rồi rơi xuống đường đánh rầm một tiếng. Nước biển đã tràn qua kè, chảy ào ào ngoài ngõ.
Cô nghe tiếng ba trở mình trên phản. Rồi tiếng ông ngồi dậy. Rồi tiếng ông rút cái áo mưa trên đinh.
Cô biết giờ này. Cô đã đếm ngược đến giờ này suốt hai mươi năm.
Ông Hự đi ra đến cửa thì thấy con gái ngồi chắn ngang.
– Mi tránh ra. Ba ra coi một chút rồi vô.
– Ba ra coi cái chi? Ghe nhà mình buộc ở sân trường rồi.
– Không phải ghe mình. – Ông cúi xuống, giọng gấp gáp. – Ghe ông Cửu. Dây ổng cũ, ba coi từ chiều, sờn một chỗ. Sóng như ri thì đứt. Ổng có cái chân rứa, ổng mà ra là ổng chết.
Quyện ngồi im. Gió rít qua khe cửa. Cô không nhìn thấy mặt ba trong bóng tối, chỉ thấy cái bóng ông đen sì cúi xuống trên đầu mình, nghe hơi thở ông khò khè vì phổi yếu.
Ghe ông Cửu.
Hai mươi năm, cô tin ba chết vì cái ghe nhà mình. Hai mươi năm cô hỏi một câu không ai trả lời: cái ghe quý hơn mạng ba hả. Ba không chết vì cái ghe. Ba chết vì một ông già khó tánh nhà bên, người ba vẫn hay chửi là đồ cứng đầu, người đã gửi về một chữ "xin lỗi" trong một cái phong bì không tên.
– Ba ngồi xuống, – cô nói, giọng run. – Ghe ông Cửu con buộc rồi.
– Mi nói chi?
– Hồi chín giờ. Con với thằng Tí. Buộc vô gốc bàng già. – Cô ngừng một chút. – Bằng sợi dây dù của ba.
Cái bóng đen trên đầu cô đứng sững. Rồi ông Hự lần mò trên chiếu, chỗ sợi dây vẫn cuộn ở đó từ trưa. Tay ông quờ đi quờ lại, rồi dừng.
Ông không mắng. Ông ngồi phịch xuống bên cạnh con gái, lưng tựa vào cánh cửa gỗ đang rung bần bật. Hai cha con ngồi như thế, vai kề vai, nghe gió bên ngoài gào như có ai đang khóc. Ông Hự không nói gì rất lâu. Rồi ông hỏi:
– Nút chi?
– Nút ghế đôi. Ba dạy con.
– Ba vòng hay hai vòng?
– Ba vòng.
Ông gật đầu trong bóng tối. Cô cảm thấy cái gật ấy qua bờ vai.
Sáu giờ sáng, trời không sáng. Bảy giờ, mái tôn nhà bà bán bánh căn bên cạnh bung một góc, rồi cả tấm cuộn lên như tờ giấy, bay qua đầu nhà ông Hự. Tiếng trẻ con khóc. Ông Hự gỡ hai bao cát, hé cửa, bà bánh căn ôm đứa cháu nhỏ, thằng Lộ cõng bà ngoại, cả nhà năm người lội nước vào, ướt như chuột lột. Quyện lấy hết chăn trong nhà ra quấn cho bọn trẻ. Ông Hự với thằng Lộ chèn lại cửa, hai người tì vai vào cánh cửa mỗi khi cơn gió giật tới, cánh cửa oằn vào rồi bật ra như có ai đập từ bên ngoài.
Tám người ngồi trong một căn nhà cấp bốn, nghe mái tôn trên đầu rên. Bà bánh căn lần tràng hạt. Quyện ôm đứa bé, nghe tim nó đập nhanh như tim chim, và nghĩ đến ông Cửu với thằng Tí ở căn nhà sát bãi, nghĩ đến sợi dây xanh ngoài gốc bàng.
Bão vào lúc gần trưa. Cả xóm Mân Thái co mình trong những căn nhà cấp bốn mà nghe như đang ngồi trong lòng một cái trống. Tám người ăn nốt chỗ cháo nguội, chia nhau từng muỗng, bọn trẻ ăn trước.
Chiều, bão tan. Mọi người lần lượt ra khỏi nhà như những người vừa đi xa về. Bãi biển không còn là bãi biển. Cây phi lao gãy rạp, cột điện ngã gục, mái tôn nằm vắt trên ngọn cây. Mấy chiếc ghe của những nhà không kịp kéo nằm chổng ngược, đáy vỡ toác, có chiếc bị sóng đánh lên tận giữa đường. Chín chiếc ghe trong sân trường tiểu học vẫn nằm nguyên, chụm mũi vào nhau, ướt sũng, đầy lá bàng.
Ghe ông Cửu nằm nghiêng ở mép cát, nước ngập nửa khoang, mạn trái trầy một vệt dài. Sợi dây thừng cũ đã đứt, đầu dây tưa ra như chổi xể. Sợi dây dù xanh vẫn căng từ mũi ghe đến gốc bàng già, ba vòng, nút ghế đôi.
Ông Cửu đứng đó, chống gậy, cái chân trái duỗi thẳng. Ông nhìn sợi dây xanh rất lâu. Thằng Tí đứng sau lưng ông, cúi gằm.
Quyện nhìn theo mắt ông. Ngay dưới chỗ cái nút ghế đôi thắt ở mũi ghe, chữ T nhỏ khắc bằng mũi đục vẫn còn nguyên, không trầy một nét. Cả mạn trái trầy xước, ván đáy ngập nước, nhưng cái mũi ghe ấy, cái chỗ anh Toàn ngồi đục đẽo hai năm trời dưới ánh đèn dầu, đã được giữ lại bằng một sợi dây ba vòng quanh gốc bàng.
Ông Cửu đưa bàn tay run run sờ lên chữ T, rồi sờ lên sợi dây xanh, như người mù đọc chữ.
Ông Hự đi ra. Quyện đi sau ba, cách ba bước.
Hai ông già đứng hai bên sợi dây, không ai nói gì. Rồi ông Cửu cúi xuống, khó nhọc vì cái chân, cởi cái nút ghế đôi ở gốc bàng ra, chậm rãi quấn sợi dây dù quanh khuỷu tay, từng vòng một, như người ta quấn chỉ. Ông quấn đến mũi ghe, gỡ nút bên đó, quấn nốt. Ông cầm cuộn dây xanh ướt sũng đưa cho ông Hự.
– Dây tốt, – ông Cửu nói.
– Hai trăm rưỡi, – ông Hự nói. – Chợ Hàn.
– Mắc.
– Mắc chi. Kéo cả con trâu không đứt.
Ông Cửu không cười. Ông quay sang nhìn Quyện, nhìn lâu đến mức cô phải cúi mặt. Rồi ông nói, giọng khàn như cát:
– Con nhỏ ni buộc nút giống ba nó. Ba vòng.
Ông Hự cầm cuộn dây về, phơi lên cái sào tre ngoài hiên, ngay chỗ mà hai mươi năm trước, ở một đời khác, người ta đã dựng cái rạp tang. Sợi dây xanh nhỏ nước tong tong xuống nền xi măng, sáng lên dưới cái nắng vàng như nước nghệ của buổi chiều sau bão.
Tối ấy Quyện nói chuyện bán ghe. Lần này cô không nói "cái ghe quý hơn mạng ba". Cô chỉ nói con muốn ba ở nhà thêm mười năm, ở nhà dạy con thắt nút. Ông Hự ngồi im, tay mân mê đầu sợi dây dù xanh, rồi nói ông sẽ nghĩ.
Ông nghĩ đến Tết. Ra Giêng, ông bán ghe cho thằng Lộ con bà bán bánh căn, giữ lại sợi dây.
— Hết —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe