Chương 1: Mười giờ đêm, một tấm ảnh
Tin nhắn đến lúc mười giờ mười bảy phút tối. Vi Thị Thấm đang ngâm chân trong chậu nước lá thuốc ở phòng trọ, mở máy ra, thấy tên Tẩn Láo San.
Chị Thấm ơi, chị xem cái này.
Một tấm ảnh chụp màn hình. Một bài đăng trên nhóm chơi lan có mấy chục nghìn thành viên. Một người đàn ông khoe chậu lan hài mới mua, lá xanh thẫm có vân đốm như da rắn, một nụ hoa đang nhú màu tím sẫm. Dòng chữ bên dưới: lan hài nuôi cấy mô, có giấy chứng nhận, mua của vườn anh Thịnh, cây khỏe, rễ đẹp. Kèm theo là tấm ảnh thứ hai, chụp phần rễ khi người ta vừa dỡ ra khỏi bầu để thay giá thể: một bộ rễ dài, mập, vàng nâu, quấn lẫn vài mẩu rêu khô.
San gửi tiếp tấm thứ ba. Anh phóng to một góc của bộ rễ, chỗ giữa hai sợi rễ có một đoạn chỉ ngắn chừng một đốt ngón tay, màu đỏ, xoắn lẫn một sợi vàng.
Chị nhìn sợi chỉ.
Chỉ của mẹ em.
Thấm ngồi im, chân vẫn ngâm trong chậu nước đã nguội. Chị nhìn tấm ảnh, phóng to rồi thu nhỏ, phóng to lần nữa. Rồi chị gõ: Em chắc không?
Mẹ em xe chỉ bằng tay, chị. Một sợi đỏ, một sợi vàng, xe ngược chiều kim đồng hồ. Cả bản không ai xe ngược. Mẹ em thuận tay trái.
Thấm nhớ bà Tẩn Mý. Nhớ rõ.
Mùa thu năm ngoái, chị lên bản của San cùng tổ tuần tra, kiểm tra tình hình khai thác lâm sản ở vùng đệm. Bà Mý sáu mươi sáu tuổi, đội khăn đỏ trùm đầu có tua len rủ xuống hai bên má, áo chàm thêu kín hoa văn ở cổ và ở gấu. Bà làm nghề lá tắm, trồng, hái, phơi hàng chục loại lá rừng, bán cho các homestay và mấy tiệm tắm lá thuốc dưới phố Sa Pa. San, con trai út của bà, học trung cấp du lịch về, mở một homestay ba phòng sát chân núi.
Hôm đó, bà dẫn Thấm ra sau nhà, leo một đoạn dốc đá dựng đứng chừng nửa tiếng, tới một vách đá vôi phủ rêu, nước rỉ tong tong. Trên những hốc đá đầy mùn, mọc mấy chục khóm lan hài, lá dày, xanh sẫm, vân đốm. Mùa ấy chưa có hoa. Gốc mỗi khóm, sát mặt đá, có quấn một vòng chỉ đỏ xe vàng, buộc một cái nút nhỏ.
– Mẹ tôi buộc, – bà nói, tiếng Kinh lơ lớ. – Rồi tôi buộc. Buộc là để con cháu biết cây này của núi, không hái. Người lạ không biết thì thôi. Người Dao biết thì không hái.
– Mấy khóm lan này quý lắm bà ạ, – Thấm nói. – Người ta mà biết chỗ này thì người ta lên hái hết.
Bà Mý cười, chỉ tay về phía con đường dốc vừa leo.
– Đường khó. Người lạ không biết. Chỉ người nhà biết.
Thấm đã ghi tọa độ, đã báo về hạt, đề nghị đưa vách đá vào danh sách tuần tra. Tổ tuần tra lên được hai lần trong mùa đông.
Tháng Tư năm nay, San nhắn tin báo vách đá trống. Thấm lên ngay. Tất cả các khóm lan đều đã bị nhổ, nhổ khéo, cả bầu rễ, chỉ còn lại những hốc đá trơ mùn đất đen và mấy sợi chỉ đỏ đứt lủng lẳng. Không có dấu chân người lạ trên đường dốc. Không ai trong bản thấy người lạ. Kẻ hái lan đã tới và đi như sương.
Bà Mý leo lên cùng chị hôm ấy. Bà không khóc, không kêu. Bà đi dọc chân vách đá, chậm, cúi xuống từng hốc đá trống, nhặt những đoạn chỉ đứt bỏ vào túi áo, như người ta nhặt những sợi tóc rụng của người thân. Nhặt xong, bà ngồi xuống một tảng đá, rút cái tẩu ra, không châm thuốc, chỉ ngậm.
– Ai hái cây này, – bà nói, tiếng Kinh chậm rãi, – người đó biết đường.
– Bà có nghi ai không bà?
Bà lắc đầu. Bà nhìn xuống bản, nơi khói bếp bốc lên từ những mái nhà gỗ, rồi lắc đầu lần nữa.
– Người trong bản không hái. Người trong bản sợ.
– Sợ gì bà?
– Sợ tổ tiên. – Bà gõ cái tẩu vào lòng bàn tay. – Chỉ đỏ là của tổ tiên buộc. Người Dao thấy chỉ đỏ thì tay rụt lại.
Thấm đã lập biên bản, chụp ảnh, báo cáo về hạt. Hạt đã cho kiểm tra các vựa lan dưới thị xã, các xe khách đi Hà Nội trong mấy tuần sau đó. Không thấy gì. Mấy chục khóm lan biến mất khỏi núi, rồi biến mất khỏi mọi con đường.
Và bây giờ, ba tháng sau, một sợi chỉ đỏ xe vàng nằm giữa bộ rễ của một chậu lan nuôi cấy mô ở Hà Nội.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám