Chương 3: Cuốn vở bị đọc
Ngày 20 tháng 10.
Vòng cháy rầy ở ruộng tổ bốn đứng lại. Không lan nữa.
Tôi không cứu được hết. Khoảnh sát kênh mất gần một phần ba. Những ruộng tổ khác không làm theo thì cháy lan liền khoảnh. Tôi đứng trên bờ nhìn những khoảnh ruộng vàng cháy ấy, nhớ lại bài giảng mình ngủ gật, nhớ những con số về sản lượng mất trắng của cả vùng mà hồi đó tôi chỉ thấy là con số.
Nhưng tổ bốn có lúa để gặt.
Trên huyện cũng xuống, chở theo mấy bình thuốc, đi một vòng, ghi chép. Một anh cán bộ kỹ thuật trẻ đứng coi tấm ván tôi vẽ rất lâu, hỏi ai vẽ. Người ta chỉ con Lựu. Anh cán bộ hỏi tôi học ở đâu. Tôi lại lắp bắp. Anh ghi tên con Lựu vô sổ, hẹn mùa sau đưa tài liệu về.
Ngày 22 tháng 10.
Chuyện xảy ra hôm nay, tôi phải ghi cho thật đúng.
Tôi đi đồng về, thấy má Lựu ngồi trên ván, cuốn vở của thằng Tư để trên đùi. Thằng Tư ngồi kế bên, mặt cúi gằm. Những tờ giấy tôi xé ra viết, tôi giấu dưới chiếu, giờ nằm trên tay má.
Má không biết chữ. Nhưng thằng Tư biết. Má đã kêu nó đọc.
Tôi đứng ở cửa, không bước vô được.
– Thằng Tư đọc cho má nghe hết rồi. – Má nói. Giọng bà không giận. Chỉ mệt. – Cái gì mà năm hai ngàn không trăm hai mươi sáu. Cái gì mà Đại học Cần Thơ. Má không hiểu.
Tôi im.
– Má chỉ hiểu một chuyện. – Bà nói, đặt cuốn vở xuống. – Con Lựu của má không biết viết. Nó sốt năm tám tuổi, nghỉ học từ đó. Tên nó nó còn viết không ra.
Ngoài kênh, có tiếng ghe máy chạy ngang, sóng vỗ vô chân cầu. Tôi đứng nghe tiếng sóng đó rất lâu. Tôi đã nghĩ tới mọi cách người ta có thể phát hiện ra tôi: giọng nói, cách đi, những điều tôi biết. Tôi không nghĩ tới chuyện đơn giản nhất. Một đứa con gái mù chữ không thể viết nhật ký.
– Con không biết con Lựu ở đâu. – Tôi nói. Lần này cái lưỡi không lắp. Có lẽ vì tôi không cố. – Con tỉnh dậy là ở trong này rồi. Con không giành của ai.
Má Lựu nhìn tôi lâu lắm. Rồi bà làm một việc mà đến giờ, viết lại, tôi vẫn còn run tay.
Bà kéo tôi ngồi xuống ván, lấy cây lược sừng chải tóc cho tôi, như chải cho con nhỏ hồi xưa.
– Mấy bữa nay con đi ruộng sớm, về trễ. – Bà nói. – Tối qua ông Chín ghé, nói tổ bốn có lúa gặt là nhờ con. Bên tổ ba cháy hết, nhà bà Út Hên coi như đói tới Tết. Má không biết con là ai. Nhưng con Lựu của má hồi nhỏ, trước khi sốt, nó cũng hay đi coi người ta làm ruộng.
Bà cột tóc cho tôi bằng sợi thun cũ.
– Thôi, con cứ là con Lựu. – Bà nói. – Má quen kêu vậy rồi.
Ngày 25 tháng 10.
Từ hôm nay, tối nào tôi cũng dạy thằng Tư thêm một bài. Không phải bài trong sách lớp năm. Bài về con rầy cánh ngắn, cánh dài, cách đếm trên mười khóm lúa, cách đặt đèn những đêm lặng gió.
Má Lựu ngồi nghe. Bà đòi tôi dạy bà viết chữ "Lựu".
Tôi cầm tay bà, viết từng nét lên tấm ván. Chữ L, chữ ư, cái dấu móc, dấu nặng. Bà viết xong, ngồi nhìn chữ đó lâu lắm, rồi kêu thằng Tư lấy than củi tô lại cho đậm.
Tôi không biết mình còn ở đây bao lâu. Tôi không biết có ngày nào tôi mở mắt ra lại thấy ruộng thực địa ở Phong Điền không. Tôi cất cuốn vở này dưới chiếu, nhưng không giấu nữa.
Mùa sau, anh cán bộ kỹ thuật hẹn đưa giống lúa mới về. Tôi biết tên nó. Tôi sẽ giả bộ như mới nghe lần đầu.
— Hết —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không