Chương 3: Đêm thứ ba
Đêm cuối cùng trước khi đưa tang, không ai đề nghị mang cuốn sổ đi cất nữa. Anh Hoà tự tay đặt cuốn sổ cũ, cuốn có chữ ông Sơn, lên bàn, cạnh cuốn mới. Chị Dung đặt thêm một lọ mực tím và một cây bút sắt cũ, của ông Tứ, lục được trong cái hòm tôn dưới gầm giường.
– Để các chú các bác viết cho đỡ mỏi tay. – Chị nói, giọng nghẹn.
Đêm đó, gần như cả xóm thức. Không ai về. Người ta ngồi kín rạp, uống chè, cắn hạt bí, nói chuyện nhỏ nhỏ. Mấy ông già kể chuyện hồi mới lên: phát tranh bằng dao quắm, làm nhà bằng tre nứa, đêm nằm nghe cọp gầm ở rừng Chư Yang Sin. Kể chuyện năm tám mươi, sốt rét như ma đuổi, một tháng chôn mười mấy người, đội 3 chết nhiều nhất vì ở sát suối. Ông Tứ là người đóng quan, đào huyệt, chôn gần hết. Đêm nào ông cũng ngồi ở đầu láng trại, thổi sáo trúc, bài Trống Cơm, cho anh em đỡ nhớ quê.
Tôi nghe tới đó thì đứng dậy. Không ai bảo, tôi lấy cây kèn, ra giữa rạp, đứng trước linh cữu.
Bát âm đám ma không có bài Trống Cơm. Đó là bài dân ca vui, người ta hát trong hội, không ai thổi trong tang lễ. Nhưng đêm đó tôi thổi. Tôi thổi chậm, chậm hơn bất cứ lần nào tôi từng thổi, kéo dài từng nốt như kéo một sợi chỉ. "Tình bằng có cái trống cơm, khen ai khéo vỗ, ố mấy bông mà nên bông…" Cả rạp im phắc. Có mấy bà cụ khóc thút thít. Bà Hiền ngồi trên xe lăn, môi mấp máy hát theo, không ra tiếng.
Và trong lúc tôi thổi, lần đầu tiên trong ba mươi năm cầm kèn đám ma, tôi thấy mình không phải đang thổi cho người sống nghe.
Tôi không thể giải thích điều đó. Tôi chỉ có thể kể lại: rạp tang lúc ấy chật kín người, ai cũng đang nhìn tôi. Nhưng tôi biết, theo cái cách người thợ kèn biết khi nào cả rạp im để nghe, rằng ngoài kia, sau lưng những người đang ngồi trên ghế nhựa, ngoài hàng rào sắt, trong vườn cà phê trắng xoá hoa, có rất nhiều người khác đang đứng nghe. Đứng rất yên. Đứng thành hàng, như người ta đứng điểm danh mỗi sáng ở láng trại năm nào.
Gió đổi chiều. Hoa cà phê rụng như mưa, bay cả vào rạp, rơi lên linh cữu, lên tóc tôi, lên cuốn sổ tang trên bàn.
Tôi thổi xong. Không ai vỗ tay. Người ta không vỗ tay trong đám ma.
Sáng hôm đó, người ta đưa ông Tứ ra nghĩa trang thị trấn, rồi chiều về làm lễ. Tôi dọn kèn trống, cất vào bao. Chị Dung bưng ra cho phường kèn mỗi người một phong bì, rồi đưa tôi thêm cuốn sổ tang cũ.
– Chú Quang xem đi chú.
Tôi lật ra. Những trang đầu, chữ ký của người sống, bút bi xanh, bút bi đen, nghiêng ngả. Dòng chữ của ông Sơn. Ba dòng của gia đình ông Lượng. Rồi thêm nhiều dòng nữa, cũng mực tím, cũng nét bút sắt chấm mực, những dòng mà tôi chắc chắn tối qua, lúc chị Dung đặt cuốn sổ ra bàn, chưa hề có. Mười một tên. Mười hai. Mười ba. Tên nào cũng kèm hai chữ "Đội 3". Có tên viết run run, có tên viết hoa đậm, có tên chỉ là một dấu điểm chỉ ngón tay cái bằng mực tím, kèm một dòng chữ nhỏ bên cạnh của người viết hộ: "Bác Ngạn không biết chữ."
Tôi đếm được hai mươi bảy cái tên.
Ở trang cuối cùng, dòng cuối cùng, có thêm một câu, không có tên ai ký. Nét chữ khác hẳn, nghiêng mạnh về bên phải, to, vụng về, như người cả đời cầm cuốc hơn cầm bút.
"Đội 3 đã đủ. Cảm ơn anh thợ kèn."
Chị Dung lấy trong túi áo ra một lá thư cũ, giấy đã ố vàng, gấp tư. Thư ông Tứ gửi về quê năm tám mươi, chị nói, bà nội chị giữ, sau này gửi lại cho bố chị. Chị mở ra, đặt cạnh cuốn sổ tang.
Tôi không cần so lâu. Cùng một kiểu chữ nghiêng mạnh bên phải. Cùng cái nét chữ "đ" vụng về, móc ngược lên như cái lưỡi cuốc.
Chị Dung không khóc nữa. Chị gấp lá thư lại, đặt vào giữa cuốn sổ tang, ở trang cuối, rồi ôm cả cuốn sổ vào lòng như ôm một đứa trẻ.
– Thầy em đi điểm danh rồi chú ạ. – Chị nói. – Ông ấy làm đội trưởng mà.
Tôi đeo bao kèn lên vai, chào chị, đi ra cổng. Ngoài đường, gió thổi từ phía đồi đội 3 về, mang theo mùi hoa cà phê. Ngọt, nồng, và lạnh, cái lạnh không phải của tháng Hai Tây Nguyên, mà như của một con suối nhỏ chảy trong rừng lúc nửa đêm.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe