Chương 3: Cuộc cuối: không ai nhấc máy
Từ Vinh ra lạch Quèn chừng sáu mươi cây số. Tôi xin nghỉ một ngày, chạy xe máy theo quốc lộ một, qua Diễn Châu, gió đông bắc tạt ngang làm chiếc xe cứ chực lạng ra giữa đường. Tháng Mười, biển xám như nước rửa chì. Cái nhà cấp bốn của ba khoá cửa, sân phơi lưới trống trơn, giàn mướp khô treo lủng lẳng mấy quả già. Bà Hoà nhà bên nhìn thấy tôi thì chạy sang, tay còn cầm nắm rau khoai lang.
– Con Sâm về à? Về giỗ trăm ngày muộn hè?
– Dạ không, con hỏi đường tới nhà ông Tư Bền, người mua ghe của ba con.
Bà chỉ cho tôi. Nhà ông Tư Bền ở xóm Tân Lập, ngay sát bến, mái tôn xanh, trước sân có cái thùng phuy cắt đôi trồng cây ớt. Ông chừng năm mươi, đen nhẻm, gầy, tay to như cái mái chèo. Nghe tôi nói là con gái ông Khoát, ông bỏ cái điếu cày xuống, đứng dậy kéo ghế mời ngồi, rót chè xanh vào cái chén sứt.
– Ông Khoát tốt lắm – ông nói. – Bán ghe cho tôi mà rứa, còn đi theo một chuyến chỉ bãi chỉ đá. Đêm ấy về tôi còn mời ông ly rượu, ông nói mệt, về nằm. Sáng ra nghe tin, tôi...
Ông dừng lại, uống ngụm chè, rồi ho. Hai tiếng ngắn, khục khặc, rồi một tiếng dài. Tôi nhìn ông và biết mình đã tìm đúng chỗ.
– Chú hút thuốc lào ạ?
– Hút từ hồi mười lăm, bỏ không nổi – ông cười. – Ông Khoát cũng rứa. Hai ông ngồi trên ghe cả đêm, ho thi với nhau.
Tôi kể cho ông nghe chuyện những cuộc gọi. Ông nghe, mặt sạm lại, rồi cứ lắc đầu, nói tôi không biết chi hết, ghe nằm ụ sửa máy từ tháng Bảy tới đầu tháng Mười mới ra khơi lại, trên ghe làm gì có điện thoại của ai. Tôi xin ông cho tôi xuống ghe. Ông chần chừ, nói đàn bà con gái xuống ghe người ta kiêng, rồi nhìn mặt tôi, ông thở dài.
– Thôi được. Mai ba rưỡi cô ra bến. Đi theo tôi một khúc ra cửa lạch rồi tôi cho xuồng chở vô.
Đêm đó tôi ngủ ở nhà ba, trên cái chõng tre nơi người ta tìm thấy ông. Tôi không thấy sợ. Tôi chỉ thấy lạnh, cái lạnh ẩm của gió biển lùa qua khe cửa gỗ, và mùi thuốc lào vẫn còn bám trong mấy cái gối.
Ba giờ rưỡi, tôi ra bến. Đèn trên các ghe lấp loáng như một dãy đom đóm trên mặt nước đen. Ghe của ba, giờ đã sơn lại số mới, nhưng đôi mắt xanh đỏ ở mũi thì ông Tư Bền vẫn giữ. Ông dắt tôi lên, chỉ cho ngồi ở mạn sau, cạnh thùng đá. Cái cabin nhỏ xíu, vừa đủ một người đứng, có tay lái gỗ bóng lên vì tay người, một cái bóng đèn tròn vàng đục treo trên đầu, và một cái radio cũ dán băng keo đen buộc vào cột.
Ba giờ bốn mươi chín, ông Tư Bền chắp tay đứng trước mũi ghe, lẩm bẩm. Tôi nghe được mấy chữ cuối: "...cho con đi bình an nghe."
Rồi ông bước vô cabin, giật dây đề. Máy nổ. Nhịp đều, khựng ở tiếng thứ tư.
Điện thoại trong túi áo tôi rung lên.
Tôi không lấy ra. Tôi đứng dậy, bước ba bước tới cửa cabin, và nhìn lên. Phía trên tay lái, móc vào một cái đinh đóng trên xà gỗ, là một cái túi vải bạt nhỏ màu cứt ngựa, loại túi đựng thuốc lào ba tôi vẫn đeo bên hông mấy chục năm. Cái túi rung lên theo nhịp máy, lắc qua lắc lại, mỗi lần lắc lại đập nhẹ vào cái cột gỗ. Từ miệng túi, một sợi dây sạc đen lòi ra, nối xuống cái ổ cắm tự chế bên cạnh bình ắc quy.
Ông Tư Bền nhìn theo mắt tôi, rồi há miệng ra mà không nói được gì.
Tôi với tay gỡ cái túi xuống. Bên trong là cái Nokia đen trắng của ba, bàn phím mòn trắng mấy số hay bấm, vỏ quấn băng keo trong. Màn hình đang sáng, đang gọi. Tên người được gọi là "Sam con". Trong túi áo tôi, cái máy của tôi vẫn rung, rung mãi.
Tôi cúp máy. Hai cái điện thoại cùng im.
Anh Thục sau này giải thích cho tôi, bằng cái giọng của người đứng lớp: điện thoại cũ, hết pin, nằm im cả ngày; khi máy ghe nổ, dòng điện từ ắc quy chạy qua sợi sạc, máy tự khởi động; cái túi rung theo nhịp máy, nút gọi màu xanh cứ thế bị cột gỗ ấn vào, mà trên mấy máy đời cũ đó, bấm nút xanh hai lần ở màn hình chính là gọi lại số vừa gọi gần nhất; sợi sạc thì lỏng, lúc ăn lúc không, nên máy cứ sập nguồn giữa chừng, gọi lại thì báo không liên lạc được. Ông Tư Bền thì cả đời không biết trên ghe mình có cái túi đó. Ông tưởng đó là đồ cúng của chủ cũ, kiêng không dám động.
Mọi thứ đều có lời giải. Tôi tin anh. Tôi vẫn tin anh.
Chỉ có một điều anh không giải thích, vì nó không cần giải thích. Đứng giữa cabin rung bần bật, tôi mở nhật ký cuộc gọi trong cái máy của ba. Cuộc gọi đi gần nhất trước khi những cuộc lúc ba giờ năm mươi bắt đầu là đêm ba mươi tháng Sáu. Hai mươi mốt giờ mười bốn, gọi "Sam con". Hai mươi mốt giờ mười lăm, gọi "Sam con". Hai mươi mốt giờ mười bảy, gọi "Sam con". Không cuộc nào được nghe.
Đêm đó tôi ở tiệc sinh nhật đồng nghiệp trong một quán nướng trên đường Nguyễn Văn Cừ. Tôi để máy im lặng. Sáng hôm sau thấy ba cuộc gọi nhỡ, tôi định trưa gọi lại. Trưa đó người ta gọi tôi trước.
Ba gọi tôi ba lần, rồi về nằm trên cái chõng tre, cầm cái quạt nan, và cái máy thì ở lại trên ghe, treo trên cây đinh, cứ chờ máy nổ để bấm lại cho xong cuộc gọi dở.
Ông Tư Bền chở tôi vào bờ bằng xuồng nhỏ. Ghe của ông ra khơi lúc trời vừa rạng, đôi mắt xanh đỏ ở mũi nhô lên hạ xuống theo con sóng bạc đầu.
Tôi vẫn nạp tiền cho số máy của ba, mỗi tháng năm chục nghìn. Cái Nokia giờ nằm trên bàn thờ, cạnh bát nhang, không cắm sạc. Đêm nào thức giấc, tôi cũng thức đúng ba giờ năm mươi. Tôi nằm im, nghe trong đầu mình tiếng máy nổ khựng ở nhịp thứ tư, rồi bấm gọi, nghe giọng ông nói "về ba gọi", và lần này, sau tiếng bíp, tôi nhắn lại.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị