Chương 1: Hạt cườm thứ nhất
– Con Sáu! Mày đứng đó làm cái gì, nước sôi trào ra bếp rồi kìa!
Tôi giật mình, tay quơ trúng cái ấm đồng. Nắp ấm nảy lên kêu lách cách. Một bà già búi tó, yếm trắng, đang đứng chống nạnh ở cửa bếp nhìn tôi như nhìn con mèo ăn vụng. Mùi than đá. Mùi khói thông. Ngoài khung cửa sổ, sương trắng đặc như sữa đổ, lờ mờ mấy hàng thông với một khóm dã quỳ vàng rực.
Câu đầu tiên tôi nói ở chỗ này là:
– Trời đất, đây là đâu?
Có tiếng gì rơi lách tách xuống nền gạch. Tôi nhìn xuống. Trên cổ tay trái tôi, một cổ tay gầy đen chưa bao giờ là của tôi, có đeo một cái vòng hạt cườm xanh. Năm hạt vừa tuột khỏi sợi chỉ, lăn lóc dưới chân bếp, rồi tan đi như hạt sương.
Bà bếp không thấy. Bà chỉ thấy con hầu đứng ngẩn ra như bị trúng gió, nên bà gõ cái muỗng gỗ lên đầu tôi một cái nhẹ.
– Đây là nhà ông Phán chớ đâu! Mày ngủ mớ hả? Bưng nước lên cho ông, lẹ!
Tôi tên Vân Khanh. Tôi dạy văn ở một trường cấp hai ở Quy Nhơn, mười một năm. Tối qua tôi ngồi chấm bài tới khuya, bên cạnh là cuốn Mười ba bậc đá ở Dốc Lê, một cuốn trinh thám in ở Sài Gòn năm sáu mươi hai, giấy đã ngả màu bánh tráng nướng. Tôi đem nó lên lớp cho một bài đọc mở rộng, và tôi bắt bọn nhỏ lớp chín làm một việc mà tụi nó than tới giờ: đếm xem con Sáu, cô hầu bị bắt oan, nói được bao nhiêu chữ trong cả cuốn sách.
Sáu mươi mốt. Cả lớp đếm ra sáu mươi mốt. Phần lớn là “dạ”. Câu dài nhất là câu cuối cùng, nói trong khám, một đêm trước khi người ta tìm thấy con Sáu nằm lạnh ngắt trên nền xi măng: “Con không có bỏ gì vô chén trà hết.”
Tôi đã nói với học trò: nhà văn tước lời của nhân vật phụ là tước luôn mạng của nó. Tôi nói câu đó hơi bị hay, tôi nhớ mình còn đắc ý.
Bây giờ tôi đứng trong bếp nhà ông Phán Trịnh Hữu Lượng, Đà Lạt, mùa đông năm ba mươi tám, nhìn vòng hạt cườm. Tôi đếm. Năm mươi sáu hạt.
Năm chữ. Trời đất, đây là đâu.
Còn năm mươi sáu.
Tôi bưng khay trà lên nhà trên, chân run, đếm từng bậc cầu thang gỗ. Nếu tôi đúng, thì hôm nay là ngày mười bốn tháng Chạp. Tối nay, ông Phán sẽ uống chén trà sen cuối cùng của đời ông trong cái chén men lam mẻ miệng của bà Phán quá cố, cái chén ông không cho ai đụng vô ngoài con Sáu. Sáng mai, ông Cẩm, người tối nay ngồi ăn cơm với ông Phán, sẽ còng tay con Sáu dẫn đi. Ba ngày sau con Sáu chết. Mười chương sau, ở trang cuối, ông thám tử già mới chỉ ra kẻ bôi thuốc chuột lên miệng chén là cậu Quý, cháu ruột ông Phán, người quản lý đồn điền chè Cầu Đất, nợ bạc ở sòng Chợ Lớn ba ngàn đồng, và biết ông chú sắp đổi tờ di chúc.
Cuốn sách đó đúng. Nó đúng tới mức tôi đã chép lại những trang cuối làm đề kiểm tra. Cái tôi không biết là con Sáu đã sống ra sao trong cái ngày nó chỉ có chữ “dạ”.
Phòng khách nhà ông Phán ấm sực, lò sưởi đốt củi thông kêu lép bép. Ông Phán ngồi trong ghế bành, tóc bạc, áo len cổ lọ, đọc báo. Cô Ngân, con gái nuôi, ngồi đan len bên cửa sổ. Cậu Quý đứng tựa lò sưởi, ba mươi tuổi, đẹp trai kiểu công tử, chải dầu bóng lộn, tay xoay xoay một chùm chìa khóa.
Tôi đặt khay xuống. Trên khay có cái chén men lam, miệng sứt một miếng nhỏ hình con trăng khuyết.
– Sáu, – ông Phán nói, không ngẩng lên, – tối nay ông Cẩm qua ăn cơm. Dặn bà bếp làm món gà nấu nấm.
Tôi mở miệng định nói “dạ”, rồi ngậm lại. Tôi gật đầu.
Cậu Quý nhìn tôi, nhíu mày một chút. Chùm chìa khóa trong tay cậu thôi xoay.
Tôi biết vì sao. Con Sáu trong sách chưa bao giờ gật đầu. Con Sáu trong sách lúc nào cũng “dạ”. Tôi vừa làm khác sách, và người đầu tiên thấy, là người có tội.
— Hết chương 1 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không