Chương 3: Lớp cát trắng
Sáng đó tôi không ra ruộng sớm. Tôi đi bộ sang nhà Đạt ở xóm dưới. Căn nhà cấp bốn trước kia còn có cái sân lớn để phơi lưới, giờ sân trống trơn, mấy cái phao xốp cũ chất ở góc. Mẹ anh đang lặt rau ngoài hiên, thấy tôi thì sững người, rồi gọi vô trong nhà.
Đạt bước ra, tóc ướt, mới tắm. Anh thấy cuốn sổ trên tay tôi thì biết.
– Ông Ba Thìn nói với em, – anh nói.
– Còn cái này là của anh Sỹ, – tôi nói. – Anh có biết trong đây anh ấy ghi gì không?
Đạt gật đầu. Anh biết. Năm đó công an biên phòng lập biên bản, cuốn sổ nằm trong túi nilon dưới hầm máy, người ta trả lại cho gia đình. Anh đã đọc trước khi người ta đem tới nhà tôi.
– Sao anh không nói? Sao anh để em nói những câu đó?
– Tại em nói đúng, – Đạt nói. – Tàu của anh. Anh là thuyền trưởng. Nó muốn ở lại, anh không giữ được nó thì cũng là anh. Thuyền trưởng không có quyền đổ cho máy trưởng.
Tôi muốn hét lên. Tôi muốn nói cái kiểu đàn ông như anh thật đáng ghét, cái kiểu nhận hết về mình rồi đứng im chịu đòn như vậy. Nhưng mẹ anh đang ngồi đó, rổ rau trên tay, và tôi thấy mắt bà đỏ lên.
– Năm năm, – tôi chỉ nói được vậy. – Năm năm anh cấy ruộng cho nhà em.
– Ba em đau lưng.
– Không phải vì vậy.
Đạt im một lúc. Rồi anh nói, nhìn xuống bàn tay thiếu hai ngón của mình:
– Anh không ra biển được nữa. Mỗi lần xuống cầu cảng là anh run. Ngồi trên đất thì đỡ hơn. Ruộng nhà em gần núi, xa biển nhất đảo.
Tôi không biết câu đó có phải là thật hết không. Nhưng tôi biết đó là câu thật nhất anh có thể nói lúc ấy.
Lúc tôi quay về, mẹ anh đuổi theo ra tận đầu ngõ. Bà dúi vào tay tôi một gói giấy báo, trong là mấy cái bánh ít lá gai bà mới hấp.
– Năm năm nay nó không ăn Tết, – bà nói nhỏ, như sợ con trai trong nhà nghe thấy. – Đêm ba mươi nó ra ruộng nhà con ngồi. Bác hỏi, nó nói ngồi đó canh trâu bò vô phá tỏi. Đảo này làm gì có trâu bò, con.
Tôi cầm gói bánh, gật đầu, không nói gì được. Bà vuốt tóc tôi một cái, như hồi tôi còn đi học ghé nhà bà xin nước mưa.
Mẹ tôi xuất viện vào cuối tháng. Ba đưa mẹ về bằng tàu chậm, tôi ra cầu cảng đón. Đạt cũng ra, đứng cách xa chỗ nước một khúc, tay đút túi quần. Lúc khiêng mẹ lên xe ba gác, anh với tôi mỗi người một đầu cáng. Mẹ nằm giữa, nhìn hết đứa này tới đứa kia, không nói gì, chỉ nắm cổ tay tôi siết thật chặt.
Tôi gọi vào Đà Nẵng xin nghỉ hẳn. Chị quản lý tưởng tôi đùa. Rồi chị hỏi tôi định làm gì ở đảo. Tôi nói tôi trồng tỏi. Chị cười, bảo dân lễ tân bốn ngoại ngữ mà về trồng tỏi. Tôi cũng cười.
Tỏi Lý Sơn lên mầm sau mười ngày. Phải tưới đều, phải làm cỏ, phải phủ thêm cát khi mưa làm trôi. Người ta chở cát trắng từ bãi lên bằng xe rùa, đổ thành từng đống bên bờ ruộng, rồi rải bằng tay. Tôi rải không đều, chỗ dày chỗ mỏng. Đạt đi sau, dùng cái cào tre gạt lại. Chúng tôi làm suốt buổi sáng không nói câu nào, chỉ có tiếng xe rùa lạo xạo trên đường đất.
Tới trưa, tôi ngồi xuống bờ ruộng, mở chai nước có cột sợi dây ni lông đỏ, uống một hơi.
Đạt nhìn tôi, rồi nhìn chai nước.
– Chai đó để từ tuần trước, – anh nói. – Nước nóng rồi.
– Ừ, – tôi nói. – Nóng thiệt.
Tôi uống tiếp. Anh ngồi xuống cạnh tôi, cách một gang tay, nhìn ra mấy luống tỏi vừa nhú, xanh mượt trên nền cát trắng. Tôi đưa chai nước sang. Anh cầm lấy bằng tay trái. Ba ngón còn lại nắm vẫn chắc.
Tháng Chạp năm đó, nhà tôi giỗ anh Sỹ. Đạt bày mâm, tôi thắp nhang. Ba đứng trước bàn thờ một lúc lâu, rồi quay ra nói với cả hai đứa, giọng bình thường như hỏi chuyện mùa màng:
– Ra Giêng coi ngày đi. Mẹ con cũng đi được rồi.
Đạt nhìn tôi. Tôi nhìn ra sân, nơi mấy bó tỏi đầu mùa của năm trước vẫn treo dưới mái hiên, khô và thơm.
– Ra Giêng, – tôi nói. – Sau mùa tỏi.
— Hết —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe