Chương 2: Cái áo của anh Sỹ
Tôi ở lại đảo chăm nhà, chờ mẹ xuất viện. Sáng nào tôi cũng ra ruộng sớm hơn Đạt, cố trồng cho xong trước khi anh tới. Tôi không giỏi. Tép tỏi phải cắm đầu nhọn lên trên, sâu vừa đủ một đốt ngón tay, hàng cách hàng một gang. Tôi cắm hàng nào hàng nấy xiêu như người say.
Ngày thứ ba, tôi ra thì thấy mấy hàng hôm qua của tôi đã được cắm lại, thẳng tắp. Đạt không có ở đó. Trên bờ ruộng có một chai nước lọc cột sợi dây ni lông đỏ.
Tôi để nguyên chai nước ở đó. Chiều về nó vẫn nằm đó.
Ngày thứ tư, tôi ra cầu cảng mua đá lạnh cho tủ cá, thấy Đạt đứng ở đầu bến. Có một chiếc tàu mới cập, người ta đang chuyền thùng cá lên bờ, la hét, cười đùa. Anh đứng cách mép nước chừng mười bước, không lại gần hơn. Một người trên tàu gọi anh xuống phụ khiêng. Anh lắc đầu, giơ cái túi đồ đang cầm lên như để nói tay anh bận. Rồi anh quay đi, đi nhanh, gần như chạy. Tôi đứng sau xe nước mía của chú Hai Long, nhìn anh đi khuất. Tôi chưa từng thấy Đạt sợ cái gì. Hồi nhỏ, anh là đứa nhảy từ mũi tàu xuống nước trước cả bọn.
Ngày thứ năm, ông Ba Thìn ở thôn Tây sang thăm, mang theo bịch đường phổi với nải chuối. Ông là thuyền trưởng con tàu đã tìm thấy Đạt năm đó. Ông ngồi uống trà với tôi ngoài hiên, hỏi han mẹ, hỏi han công việc. Rồi ông hỏi, giọng như tình cờ:
– Con với thằng Đạt nói chuyện lại chưa?
Tôi lắc đầu.
Ông Ba Thìn rót thêm trà, nhìn ra con đường đất trắng. Ông bảo ông già rồi, có chuyện này nói ra không biết đúng hay sai, nhưng để trong bụng năm năm thì nặng.
– Hôm tàu chú gặp nó, – ông nói, – nó không bám cái thùng xốp một mình đâu con.
Ông kể. Lúc tàu ông vòng lại, thấy cái thùng xốp nổi lên xuống giữa sóng, ông tưởng chỉ có một người. Tới gần mới thấy, Đạt cởi áo ra, xé làm đôi, một nửa cột cổ tay anh vào quai thùng, một nửa cột anh Sỹ vào người mình. Anh tôi khi ấy đã mất từ lâu. Đạt cứ thế mà giữ suốt mấy chục tiếng, trong nước mặn, cho tới khi tay không còn cảm giác. Hai ngón tay bị sợi dây cước thít hoại đi, lên bờ bác sĩ phải cắt.
– Chú kéo nó lên, nó không chịu buông thằng Sỹ ra, – ông Ba Thìn nói. – Nó nói một câu, chú nhớ tới giờ. Nó nói: con hứa với ba má thằng Sỹ là con đem nó về.
Tôi ngồi im. Ly trà trong tay nguội từ lúc nào.
– Ở đám tang, ai cũng tưởng tàu khác vớt được thằng Sỹ, – ông nói. – Nó không cho chú kể. Nó nói, nó là thuyền trưởng. Chuyện nó làm là chuyện phải làm, kể ra thì như kể công.
Tôi hỏi ông, giọng tôi lạ lắm, như của người khác:
– Còn hôm đó, ai quyết định ở lại kéo lưới? Khi trạm bờ đã báo?
Ông Ba Thìn nhìn tôi lâu. Rồi ông nói ông không có ở trên tàu đó, ông không biết. Ông đứng dậy, vỗ vai tôi, đi về.
Tối, tôi lục cái thùng các tông đựng đồ của anh Sỹ mà mẹ cất trên gác. Tôi không biết mình tìm cái gì. Trong đó có cái áo thun xám anh hay mặc đi biển, cái đồng hồ nhựa đã chết, mấy tấm ảnh. Và cuốn sổ ghi dầu nhớt của máy trưởng, bìa nhựa, giấy ẩm loang lổ, nét chữ ngoáy của anh tôi.
Trang cuối ghi ngày mười bốn tháng Mười. Một dòng ngắn: "Đạt kêu về. Tui với chú Năm muốn thả thêm mẻ lưới, cá đang lên. Cãi nhau. Mai về."
Hôm sau là ngày tàu chìm.
Tôi nghe được giọng anh Sỹ trong dòng chữ đó. Anh tôi là người như vậy. Hồi nhỏ đi bắt ốc ở hòn Mù Cu, nước lên tới bụng rồi anh vẫn còn cúi xuống mò thêm con nữa, con nữa, ba la mắng thế nào cũng không chừa. Anh hay nói biển cho thì phải lấy, không lấy là phụ lòng biển. Đạt thì ngược lại. Đạt là đứa luôn nhìn trời trước khi nhìn cá. Hai đứa chơi với nhau từ năm sáu tuổi, cãi nhau từ năm sáu tuổi, cứ đi biển chung là cãi, cãi xong về lại ngồi nhậu với nhau tới khuya trên cái chiếu trải trước hiên nhà tôi. Mẹ tôi hay nói, hai thằng này mà thiếu một đứa thì đứa kia không biết cãi với ai.
Tôi ngồi trên gác tới sáng, cuốn sổ trên đùi. Năm năm qua tôi đã giữ một câu hỏi, chưa từng hỏi ai, vì tôi tưởng tôi biết câu trả lời. Giờ có câu trả lời rồi, mà tôi không thấy nhẹ đi chút nào. Anh tôi muốn ở lại. Đạt muốn về. Rồi họ ở lại, và chỉ một người về được, đem theo người kia.
— Hết chương 2 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe