Chương 3: Bốn mươi mốt nấc
Đêm ấy Khoáng không được ngủ trong nhà rông như cha ngày trước. Người ta chỉ cho đoàn của anh một cái chòi canh rẫy ở bìa làng. Năm người gánh muối nằm chen chúc, cằn nhằn. Có người bảo sáng mai về luôn, mang muối xuống bán rẻ ở bến Đá Mài còn hơn ngồi đây chịu nhục.
Gần nửa đêm, có người đến gõ cột chòi. Đó là một đứa con gái chừng mười lăm tuổi, đầu đội cái gùi không, nói tiếng Kinh lơ lớ.
– Già Klơng là ông em. Ông bảo em hỏi anh một câu. Ông Đồng có dạy anh bài đếm que không?
Khoáng ngồi dậy.
– Bài vè bốn mươi mốt nấc. Cha tôi dạy từ hồi tôi bảy tuổi.
Đứa con gái gật đầu rồi chạy đi, không nói gì thêm.
Sáng hôm sau, cả làng tụ ở sân nhà rông. Già Klơng ngồi trên một khúc gỗ, trước mặt là cái mâm mây. Ông mở một cái ống tre, lấy ra nửa que của làng, đặt lên mâm. Lái Thố bước tới, đặt nửa que của mình xuống bên cạnh, rồi ghép hai nửa vào nhau. Hai mặt tre khít như chưa từng bị chẻ, từng nấc khắc khớp nhau không lệch một sợi tóc. Mọi người ồ lên. Lái Thố cười.
– Khớp rồi nhé. Già cho người gánh quế ra đi.
Già Klơng không cử động. Ông nói gì đó bằng tiếng của làng, rồi đứa cháu gái đứng bên cạnh nói lại bằng tiếng Kinh:
– Ông em bảo, luật núi có hai điều. Điều một, ai cầm nửa que thì là chủ nợ. Điều hai, trước khi thu nợ, chủ nợ phải đọc que. Đọc từng nấc, nấc này cho ai, vì sao. Làng đọc nửa bên này, chủ nợ đọc nửa bên kia. Đọc khớp thì trả nợ. Nợ là chuyện của người với người, không phải chuyện của cái que.
Lái Thố nhíu mày. Lão cầm nửa que lên, xoay xoay, rồi bật cười, bảo nấc nào chẳng là muối, đọc làm gì cho mất công. Già Klơng vẫn ngồi im. Cả làng im. Lão Thố đếm nấc, bảo bốn mươi mốt nấc, ba mươi tám gùi quế, thế là đủ chứ còn gì nữa. Không ai trả lời lão.
Rồi già Klơng quay sang nhìn Khoáng.
Khoáng bước tới. Anh không cầm que. Anh đứng trước mâm, nhìn hai nửa tre ghép vào nhau, và đọc. Giọng anh run ở mấy nấc đầu, rồi dần đều lại, cái nhịp của bài vè kéo anh đi như ngày còn nằm trên gánh của cha.
– Nấc một năm tre trổ, chuột về sạch rẫy, năm thúng muối để không. Nấc hai bà Hnhí đẻ so, một bát muối rang, đổi lấy nắm gạo nếp...
Đến nấc thứ hai, một bà già trong đám đông kêu lên một tiếng rồi ôm mặt. Người bên cạnh nói nhỏ với Khoáng rằng đó là bà Hnhí, đứa con so năm ấy giờ đã có con.
Khoáng đọc tiếp. Đứa cháu gái già Klơng dịch từng câu sang tiếng làng. Cứ mỗi nấc, lại có một người trong đám đông gật đầu, hoặc nói to một cái tên. Đến nấc thứ mười chín, Khoáng vấp như đêm hôm trước. Anh dừng lại, nhắm mắt. Một ông già trong đám đông nói to một câu bằng tiếng làng. Cô cháu gái dịch: năm lũ cuốn cầu treo. Khoáng mở mắt, đọc tiếp. Năm lũ cuốn cầu treo, cha anh ở lại làng nửa tháng, đổi bốn thúng muối lấy công làng dựng lại cầu, vì không có cầu thì năm sau không ai sang được.
Đến nấc thứ ba mươi bảy, Khoáng không vấp. Anh đọc chậm lại.
– Nấc ba mươi bảy, hổ về bắt trâu. Già Klơng bị hổ cào vai. Hai thúng muối rửa vết thương. Nấc này sâu nhất, vì là nấc của già.
Già Klơng giơ bàn tay lên, chạm vào vết sẹo trên vai trái. Cả sân nhà rông lặng đi.
Khoáng đọc tới nấc thứ bốn mươi mốt thì dừng. Nấc cuối cùng mới khắc năm ngoái, chuyến đi cuối của cha. Bài vè hồi bé không có nấc ấy. Anh nhìn già Klơng, lắc đầu.
– Nấc cuối cùng cha tôi khắc sau khi tôi thôi theo cha. Tôi không biết.
Già Klơng gật đầu. Ông cầm hai nửa que lên, tách ra, nhìn nấc cuối một lúc, rồi nói một tràng tiếng làng. Lần này cô cháu gái dịch chậm, có chỗ ngập ngừng.
– Ông em bảo, nấc cuối ông Đồng khắc năm ngoái, sau trận cháy rừng. Làng mất nửa rừng quế, mất cả kho quế phơi. Ông Đồng để lại mười thúng muối, không lấy gì, rồi ngồi cộng que với ông em. Cả thảy làng nợ bốn chục gùi quế. Ông Đồng nói với ông em: bốn chục gùi này không đòi, khi nào con trai tôi lên, làng cho nó đi đường tắt, dạy nó tìm quế ở rừng sâu, thế là đủ.
Khoáng đứng lặng. Lái Thố thì đỏ mặt tía tai.
– Láo! Ông già bịa ra để quỵt nợ! Cái que là của tao, tao trả tiền mua...
– Que là của mày. – Già Klơng nói bằng tiếng Kinh, lần đầu tiên to giọng. – Nợ không phải của mày. Mày đọc được nấc nào?
Lái Thố không đọc được nấc nào. Cả làng biết. Lão đứng giữa sân nhà rông, trước mấy trăm con mắt, cầm nửa cái que tre trong tay như cầm một khúc củi. Lão quay sang chửi Khoáng, chửi chú Ba Khiên, chửi già làng. Không ai đáp lời. Đến trưa, lão bảo người gánh muối của mình đi về. Mười hai đôi thúng muối, lão bán rẻ cho làng một nửa giá rồi đi, vì gánh ngược xuống núi thì lỗ hơn nữa. Trước khi đi, lão ném nửa que tre vào đống lửa giữa sân. Khoáng không nhặt lên.
Đêm ấy Khoáng được ngủ trong nhà rông.
Bếp lửa giữa nhà cháy đến khuya. Già Klơng ngồi bên bếp, rót cho Khoáng một bát rượu cần, hỏi anh bằng thứ tiếng Kinh chậm rãi rằng cha anh mất thế nào. Khoáng kể ông Đồng ngã xuống lúc đang gánh muối từ ruộng về, không kịp nói gì. Già Klơng gật đầu, im một lúc, rồi kể lại lần đầu tiên ông gặp cha Khoáng, ba mươi năm trước, khi ấy cha anh mới mười tám tuổi, lạc đường, ngồi khóc ở chân đèo Gió bên hai thúng muối đã ướt sũng vì mưa. Làng cho cậu ở lại phơi muối. Muối khô thì chỉ còn sáu phần. Cậu chia đều cho từng nhà, rồi xin già làng chẻ một đoạn tre, khắc vào đó bốn phần còn thiếu, hẹn năm sau gánh lên trả.
– Cái que đầu tiên là que nó nợ làng. – Già Klơng nói. – Năm sau nó trả đủ. Từ đấy làng chỉ đổi quế với nó.
Bốn mươi gùi quế thì không có. Rừng cháy rồi, làng còn chẳng đủ quế để đổi muối cho chính mình. Già Klơng bảo cháu gái lấy ra mười hai gùi, là tất cả số quế còn lại trong kho, đổi lấy mười hai đôi thúng muối của Khoáng. Mười hai gùi quế mang xuống bến chỉ bán được hai mươi quan, chưa đủ trả nợ đám ma. Khoáng nhận.
Sáng hôm sau, lúc đoàn của Khoáng sắp đi, già Klơng gọi anh lại. Ông đưa cho anh nửa que của làng, đã cạo sạch bốn mươi mốt nấc, mặt tre trắng như mới chẻ. Rồi ông lấy ra một đoạn tre già khác, chẻ đôi trước mặt Khoáng, khắc một nấc thẳng lên cả hai nửa. Mười hai thúng muối. Ông giữ một nửa, đưa Khoáng một nửa.
– Nấc một. – Già Klơng nói. – Mày phải tự đặt vè.
Khoáng cầm cái que mới, nhẵn và lạnh. Đứa cháu gái già làng đứng ở cổng làng, đầu đội cái gùi không như đêm hôm trước. Già Klơng nói nó sẽ dẫn anh đi một đường tắt nữa, đường vào rừng quế sâu mà chỉ ông Đồng và người làng biết, nơi quế mọc từ trăm năm, chưa ai bóc vỏ. Đi đường ấy mất thêm một ngày. Năm sau, đoàn muối của Khoáng sẽ đổi được gấp đôi.
Ra khỏi cổng làng, Khoáng đi sau đứa con gái, gánh muối rỗng nhẹ bẫng trên vai. Lúc qua tảng đá dấu chân voi, anh bắt đầu lẩm bẩm.
– Nấc một năm rừng cháy, làng còn mười hai gùi, đổi hết cho người lạ...
Đứa con gái quay lại, hỏi anh đọc gì vậy. Khoáng bảo đang đặt vè cho con trai sau này nghe. Nó cười, bảo vè của anh chưa có vần. Anh bảo còn bốn mươi nấc nữa, thể nào cũng có.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe