Chương 1: Nửa cái que trong rương
Đêm thứ ba sau đám, Khoáng mở cái rương gỗ mít của cha thì thấy mọi thứ vẫn còn, chỉ thiếu đúng một cái que tre.
Cái que dài chừng một gang rưỡi, chẻ dọc từ một đoạn tre già, mặt cắt nhẵn bóng vì ba mươi năm tay người cầm. Trên lưng que là những nấc khắc ngang, chỗ sâu chỗ nông, chỗ thẳng chỗ xiên. Cha Khoáng cất nó trong cái túi vải chàm, túi đặt trên cùng, dưới túi là xấp áo, cái tẩu, hai cái bát. Bây giờ cái túi vải vẫn nằm đó, mềm oặt, rỗng không.
– Mẹ có cất đi đâu không? – Khoáng hỏi.
Mẹ Khoáng lắc đầu. Bà ngồi bên bếp, mắt sưng vì khóc, tay vẫn đếm đi đếm lại mấy xâu tiền còn lại sau đám ma. Đám ma ông Thái Văn Đồng làm theo lệ làng biển Cửa Nhàn, ba ngày ba đêm, cỗ bàn cho cả xóm, tiền mua hòm gỗ, tiền thầy cúng. Nhà vay ông chủ ruộng muối ba mươi quan. Hạn trả là trước Tết.
– Không có cái que thì làm sao đòi nợ làng trên? – Mẹ Khoáng nói, giọng khàn. – Bố mày bảo làng ấy nợ nhà mình bốn chục gùi quế. Bốn chục gùi quế bán ở bến là đủ trả nợ.
Khoáng biết cái que ấy. Hồi Khoáng lên bảy, lên tám, cha cõng Khoáng trên gánh muối, một đầu là thúng muối, một đầu là thằng con. Từ Cửa Nhàn ngược sông bốn ngày tới bến Đá Mài, rồi đi bộ ba ngày qua đèo Gió lên làng Bơ Ngai của người Thượng nguồn. Đêm nào nằm trong lán, cha cũng rút cái que ra, chỉ vào từng nấc mà kể. Nấc này là năm tre trổ bông, chuột về cắn sạch lúa rẫy, cha để lại năm thúng muối không lấy gì. Nấc này là nhà bà Hnhí đẻ con so, xin một bát muối rang. Nấc xiên này là làng trả ba gùi quế. Cha kể thành vè, có vần có nhịp, Khoáng nghe mãi thuộc lòng, đêm nào cũng đòi kể lại như trẻ con khác đòi nghe chuyện cổ tích.
Rồi Khoáng lớn, nặng quá không cõng được, ở nhà đi cào muối. Cha đi một mình mười năm nữa. Khoáng không lên làng Bơ Ngai lần nào nữa.
– Chú Ba có vào buồng bố không mẹ?
Mẹ Khoáng im một lúc lâu.
– Đêm thứ hai, chú mày ngủ lại canh linh cữu.
Chú Ba Khiên là em ruột cha, ham cờ bạc, nợ khắp bến. Sáng hôm sau Khoáng đi tìm thì người ta bảo chú đã theo thuyền buôn ra phủ từ hôm qua. Ông chủ quán nước đầu bến kể thêm một câu, vừa kể vừa nhìn Khoáng dò xét:
– Hôm đám ma bố mày, lái Thố có ghé mời chú mày một chầu rượu.
Lái Thố là Mã Văn Thố, lái muối giàu nhất bến Cửa Nhàn. Mười năm nay lão chạy các đường muối lên nguồn phía nam, nhưng chưa bao giờ có được đường lên Bơ Ngai. Làng Bơ Ngai chỉ đổi quế với ông Đồng. Quế Bơ Ngai cuộn chặt như điếu thuốc, thơm cay tới tận cổ, bán ở bến được giá gấp rưỡi quế nơi khác.
Khoáng về nhà, ngồi cạnh mẹ ở bếp đến khuya. Rồi anh bảo:
– Con vẫn đi.
– Không có que, ai trả nợ cho mày?
– Không ai trả thì con vẫn đổi muối lấy quế như bố. Đổi được ít thì bán ít. Nhà mình đi đường ấy ba mươi năm, bỏ một năm là người khác vào.
Mẹ Khoáng không cản nữa. Hôm sau bà bán đôi khuyên bạc, đưa Khoáng đi mua muối ở ruộng ông Cả Đề, thứ muối hạt to trắng như gạo mà cha Khoáng chỉ mua đúng ruộng ấy.
Ông Cả Đề đang đứng giữa ruộng, quần xắn tới đùi, tay cầm cái cào gỗ. Ông nghe Khoáng nói muốn mua mười hai đôi thúng thì không trả lời ngay, chỉ cúi xuống bốc một nắm muối, bóp cho hạt muối kêu lạo xạo trong lòng bàn tay.
– Bố mày mua muối của tao ba mươi năm. – Ông nói. – Năm nào cũng bắt tao để muối ráo ba nắng mới lấy, không lấy muối mới cào. Tao hỏi sao khó thế. Bố mày bảo gánh lên núi bảy ngày, muối ướt chảy nước, tới nơi còn tám phần, người ta tưởng mình ăn gian hai phần. Mày có định mua muối ráo không?
– Có ạ. – Khoáng nói. – Nhưng tiền nhà cháu chỉ đủ mười thúng.
Ông Cả Đề quăng nắm muối lại xuống ruộng.
– Lấy mười hai đôi. Hai đôi thiếu, mày đi về rồi trả. Tao không cho chú Ba mày chịu một đồng nào, nhưng bố mày thì chưa bao giờ nợ tao quá Tết.
Khoáng thuê năm người gánh, đều là bạn cào muối của anh. Sáu người, mười hai đôi thúng, xuống thuyền ngược sông vào sáng mồng Mười tháng Chín.
— Hết chương 1 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe