Chương 3: Lá thư cuối
Tôi đọc lá thư thứ sáu vào đêm thứ ba ở lại nhà bà. Tôi để dành nó, vì tôi sợ.
Chiều hôm ấy, ông Tạo kể thêm một chuyện, chuyện mà ông bảo ông chưa kể với bố tôi vì sợ bố tôi nghĩ ông lẩm cẩm. Mấy hôm cuối, bà tôi nằm ở gian giữa, không ăn được nữa, chỉ uống nước cháo. Bà bắt người nhà xoay cái giường cho đầu bà quay về phía cái tủ chè, chứ không về phía bàn thờ như người ta vẫn làm. Đêm cuối, ông Tạo ngồi trông. Gần sáng, bà mở mắt, nhìn qua vai ông về phía bức vách, rồi nói rõ ràng, giọng tỉnh như người khoẻ:
– Anh đứng đấy lâu thế. Vào đi chứ.
Ông Tạo quay lại. Sau lưng ông chỉ có cái tủ chè với bức vách. Khi ông quay lại nhìn bà, bà đã đi rồi, mắt còn mở, miệng như đang định cười.
Ông kể xong, ngồi im, rít một hơi thuốc lào dài. Tiếng điếu kêu rọc rọc trong buổi chiều vắng.
Nửa đêm, mất điện. Cả xóm mất điện, tối như mực. Tiếng ếch nhái im bặt một lúc rồi lại kêu, lần này kêu thưa hơn, như dè chừng. Tôi thắp ngọn đèn dầu bà để trên bàn thờ, ngọn đèn hoa kỳ bằng đồng bà dùng cả đời, bấc vẫn còn, dầu vẫn còn nửa bầu. Ánh lửa vàng run run, hắt bóng tôi to tướng lên bức vách đã đục dở, cái lỗ đen ngòm ở giữa như một con mắt.
Tôi mở lá thư thứ sáu.
Giấy pơ-luya y hệt năm lá kia, mỏng, ố vàng, mép giòn. Mực tím. Chữ g đuôi dài, chữ t gạch ngang. Ngày tháng ghi trên cùng làm tôi phải đưa sát mắt vào ngọn đèn mà đọc lại ba lần.
«Ngày 15 tháng 9 năm 2026.»
Ba ngày trước khi tôi đục vách.
«Duệ,
Ông là Thành. Cháu không biết ông, nhưng ông biết cháu. Ông đứng ngoài ngõ hôm cháu đầy tháng, bà bế cháu ra hiên phơi nắng, cháu khóc to nhất xóm. Ông đứng ngoài ngõ hôm cháu thi đỗ đại học, bà mổ con gà trống thiến. Ông đứng ngoài ngõ hôm đám bà. Bà đi qua ngõ, bà nhìn thấy ông, bà cười. Năm mươi ba năm, lần đầu bà cười với ông.
Bà cháu đọc hết những lá thư này rồi. Đêm nào bà cũng đọc, ngồi dựa lưng vào vách, không cần mở. Cháu đừng hỏi ông bằng cách nào. Ông cũng không biết.
Ông chỉ xin cháu một điều như ông đã xin bà. Đừng phá cái vách ấy. Cất thư lại chỗ cũ. Trát lại cho ông.
Thành.»
Tôi ngồi đó tới khi ngọn đèn dầu cạn bấc.
Có người sẽ bảo đây là chuyện ai đó trong nhà bày ra. Tôi cũng đã nghĩ như thế. Tôi đã nghi ông Tạo, nghi bố tôi, nghi cả chính bà tôi, rằng bà viết những lá thư ấy cho mình rồi giấu đi. Nhưng bà tôi không biết chữ nhiều, cả đời bà chỉ ký được tên. Ông Tạo thì tay run, cầm đũa không vững. Bố tôi ở Hà Nội. Và không ai, không ai biết được chuyện cành nhãn.
Có người sẽ bảo đem đi giám định giấy, giám định mực. Tôi đã định thế. Tôi đã chụp ảnh cả sáu lá, gửi cho một người bạn làm ở viện bảo tàng. Bạn tôi trả lời rằng giấy pơ-luya loại ấy người ta thôi sản xuất từ cuối những năm tám mươi, mực tím loại ấy cũng vậy. Bạn hỏi tôi lá thứ sáu có phải ai đó viết đùa lên giấy cũ không. Tôi không trả lời.
Tôi không kể với bạn một điều. Đêm đọc lá thứ sáu, khi gấp nó lại, ngón cái của tôi miết qua chữ ký. Sáng ra, đầu ngón tay tôi có một vệt tím mờ, rửa xà phòng hai lần mới hết. Năm lá thư kia, tôi đã cầm, đã lật, đã soi dưới đèn suốt ba ngày, không lá nào để lại gì trên tay tôi.
Sáng hôm sau, tôi nhờ ông Tạo dạy cách nhào đất trát vách. Ông ngồi trên chõng chỉ tay, tôi làm. Đất sét lấy dưới ao, rơm rạ chặt khúc một đốt tay, thêm một ít phân trâu khô cho đất dẻo, nhào bằng chân. Đất lạnh, nhớt, lún tới mắt cá. Mùi đất ao, mùi rơm, mùi phân trâu, cái mùi mà năm mươi ba năm trước một cậu con trai mười bảy tuổi cũng ngửi, giữa mùa thu sau bão.
Tôi gấp sáu lá thư lại như cũ, buộc sợi chỉ đỏ. Tôi viết thêm một lá, trên giấy học trò, bằng bút bi xanh, vì tôi không có mực tím. Tôi không chép lại đây tôi viết gì. Có những thứ không phải để người khác đọc.
Tôi cuộn bảy lá thư vào ống tre, bịt lại bằng sáp ong mua ở chợ Phát Diệm, đặt vào đúng chỗ cũ trong lòng vách, rồi trát đất lên. Tôi trát tới gần nửa đêm. Ông Tạo ngồi ngoài hiên, không về, cầm cái đèn pin rọi cho tôi, thỉnh thoảng nhắc tôi vuốt bay cho đều tay.
Lớp đất cuối cùng, tôi miết lòng bàn tay lên cho phẳng. Đất mát, ẩm, còn mềm.
Tôi đang định rút tay ra thì nghe thấy. Từ trong lòng vách, ngay dưới bàn tay tôi, một tiếng sột soạt rất nhỏ. Rất khẽ. Như tiếng ai đang mở một tờ giấy gấp tư.
Ông Tạo ngoài hiên tắt đèn pin. Ông không hỏi gì. Tôi cũng không nói gì. Hai ông cháu ngồi trong bóng tối, nghe tiếng ếch nhái ngoài đồng, cho tới khi tiếng sột soạt dừng lại.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị