Chương 3: Tiếng gọi lúc chạng vạng
Tôi về Trảng Bàng vào một chiều thứ Bảy, đi một mình, không nói với ai trong nhà. Từ Long Khánh đi Trảng Bàng phải vòng qua Biên Hòa, qua Thủ Dầu Một, gần trăm rưỡi cây số. Tôi đi xe khách tới Củ Chi, rồi thuê xe ôm. Ông xe ôm hỏi tôi về Trảng Bàng thăm ai. Tôi nói thăm bà con. Nói xong tôi mới thấy câu đó đúng, mà cũng chưa chắc đúng.
Làng bánh tráng nằm dọc mấy con đường nhỏ, nhà nào cũng có giàn phơi bằng tre trước sân, trên giàn là hàng trăm tấm bánh tròn trắng đục, phơi cho kịp nắng chiều. Mùi bột gạo, mùi khói lò củi. Thốt nốt đứng rải rác giữa ruộng, ngọn xòe đen trên nền trời đỏ.
Tôi không có tên, không có họ, không có địa chỉ. Tôi chỉ có cái tên Tí Mực, năm năm mươi, và một lễ hội trên núi.
Tôi hỏi một bà cụ đang lật bánh trên giàn phơi. Bà nghe xong thì quay vô nhà gọi một bà cụ khác. Bà cụ thứ hai gọi thêm bà cụ thứ ba. Tới khi trời chạng vạng, đã có năm bà cụ ngồi quanh tôi trên cái bộ ván ngoài hiên, mỗi người nhớ một mẩu.
– Bà Năm Lượm ở xóm trong. – Một bà nói. – Mất con ở núi Bà, hồi tui còn nhỏ xíu.
– Mất năm năm mươi, đúng rồi. – Một bà khác nói. – Má tui kể bà Năm điên lên một hồi. Mà bà Năm chết cũng lâu rồi, năm chín mấy.
– Mà bà Năm có cái tật. – Bà cụ lật bánh nói, giọng nhỏ lại. – Chiều nào cũng ra đầu ngõ, khum tay gọi: Tí Mực ơi, về ăn cơm. Gọi cả đời. Hồi nhỏ tui đi ngang, tui sợ muốn chết.
Tôi nghe tim mình đập lên tận cổ.
– Bà Năm còn ai không bà?
– Còn con Út Gởi. – Bà cụ nói. – Đẻ sau, hai năm sau khi mất thằng Tí. Đặt tên Gởi là gởi trời gởi đất cho nó đừng lạc. Út Gởi còn tráng bánh ở xóm trong đó.
Bà Út Gởi bảy mươi tư tuổi, ngồi trước lò tráng bánh, tay múc bột tráng lên mặt vải căng trên nồi nước sôi, đều như máy. Bà nghe tôi kể, tay vẫn tráng, một tấm, hai tấm, ba tấm. Tới tấm thứ tư bà dừng lại, cái vá bột nhỏ giọt xuống bếp, xèo một tiếng.
– Hồi nhỏ tui ghét ổng lắm. – Bà nói. – Ông anh mà tui chưa thấy mặt lần nào. Chiều nào má cũng gọi ổng, mâm cơm nào má cũng xới cho ổng một chén, không ai được đụng. Tui đói tui ăn vụng, má đánh. Tui hỏi má, sao không gọi con mà gọi ổng. Má nói con có ở nhà rồi, gọi chi.
Bà đặt cái vá xuống.
– Má chết rồi, tui cũng gọi. – Bà nói, không nhìn tôi. – Không phải chiều nào. Mỗi năm đúng ngày rằm tháng Giêng, tui ra đầu ngõ gọi một lần, cho má.
Tôi đưa cho bà tấm hình ông nội trong điện thoại. Ông đứng ở cổng vườn chôm chôm, chắp tay sau lưng. Bà Út Gởi nhìn rất lâu. Rồi bà lấy ngón tay cái chà lên màn hình, ngay cái trán của ông, như lau một vết bụi.
– Cái trán. – Bà nói. – Trán má tui y vầy. Vồ ra.
Hai tuần sau, cô Út chở bà Út Gởi lên Long Khánh. Phải, cô Út. Cô nghe tôi kể hết chuyện thì ngồi im cả buổi, rồi cô đi chợ mua một bao bánh tráng phơi sương, ngồi cuốn cho ông ăn từng cuốn. Ba tôi im lặng lâu hơn. Rồi ba bảo chuyện chia đất để sau, ông còn sống thì đất còn là của ông.
Bà Út Gởi tới nơi lúc gần năm giờ chiều. Bà mặc áo bà ba màu nâu, đội khăn rằn, xách theo một bịch bánh tráng phơi sương tự tráng. Tôi dắt bà vô sân. Ông nội tôi không có trong nhà.
Ông đang ở cổng vườn. Mặt trời đã xuống thấp, vàng như lòng trứng, rọi qua mấy hàng chôm chôm. Ông chắp tay sau lưng, nhìn ra con đường đất đỏ, sắp sửa khum tay gọi.
Bà Út Gởi đứng sau lưng ông một lúc. Rồi bà khum hai bàn tay lên miệng, kéo giọng lên cao, cái giọng Tây Ninh chua và ngọt, gọi đúng cái cách mà bà đã nghe mỗi chiều suốt bốn mươi mấy năm má bà còn sống:
– Tí Mực ơi! Về ăn cơm!
Ông nội tôi đứng sững. Hai tay ông buông xuống. Rồi ông quay lại, chậm, rất chậm, như người sợ quay nhanh thì tiếng gọi bay mất.
Ông nhìn bà Út Gởi. Ông không biết bà là ai. Tôi biết ông không biết. Nhưng ông nhìn cái trán vồ của bà, nghe cái giọng ấy, và gương mặt ông giãn ra như mặt ruộng sau mưa.
– Dạ. – Ông nói. – Con về rồi nè má.
Ba tôi đứng ở bậc thềm, nãy giờ không nhúc nhích. Tôi thấy ba đưa tay lên dụi mắt, rồi quay đi giả bộ coi cái bóng đèn hiên. Cô Út thì không giả bộ gì hết. Cô khóc thành tiếng, cái tiếng khóc rổn rảng y như cái giọng nói của cô.
Bà Út Gởi đi tới, nắm tay ông, dắt ông vô nhà. Ông đi theo ngoan ngoãn, như một đứa nhỏ được dắt về. Lúc ngang qua tôi, bà nói nhỏ:
– Ổng đi chơi lâu quá. Bảy mươi sáu năm.
Bữa tối hôm đó, trên mâm cơm có cái chén dư như mọi khi. Ông nội không xới cơm vào đó. Ông đẩy cái chén về phía bà Út Gởi, đẩy luôn dĩa bánh tráng cuốn, rồi cầm đũa, ăn hết hai chén cơm, ngon lành như một đứa nhỏ vừa đi chơi về muộn.
Bà Út Gởi ở lại một tuần. Chiều nào bà cũng ra cổng vườn trước năm giờ, gọi trước khi ông kịp gọi. Ông nghe tiếng là đi vô nhà, ngồi vào mâm. Tới ngày thứ năm, ông không ra cổng nữa. Ông ngồi trong hiên, chờ tiếng gọi tới, như chờ chuông tan trường.
Ba tôi xếp tờ giấy in giá viện dưỡng lão lại, nhét vào ngăn kéo. Ba nói để coi thêm.
Bà Út Gởi về Trảng Bàng, để lại cho nhà tôi hai bao bánh tráng phơi sương, và một đoạn ghi âm trong điện thoại cô Út: tiếng bà gọi Tí Mực về ăn cơm, ba lần, kéo dài, cái giọng chua và ngọt. Năm giờ chiều nào cô Út cũng bật cho ông nghe. Cô Út nói nghe riết cô thuộc luôn, có bữa cô gọi thử, ông cũng dạ.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe