Chương 2: Bánh tráng phơi sương
Tôi không tin chuyện con rơi. Không phải vì tôi tin ông tôi đứng đắn, mà vì làm điều dưỡng khoa lão hai năm, tôi biết người lẫn nhớ chuyện gì. Họ ít khi nhớ chuyện ba mươi tuổi. Họ nhớ chuyện năm tuổi, sáu tuổi. Họ gọi má. Họ đòi về nhà, mà cái nhà họ đòi về thường là cái nhà đã không còn từ sáu mươi năm trước.
Ở khoa, người ta gọi đó là hội chứng hoàng hôn. Chiều xuống là người bệnh bồn chồn, đi tới đi lui, đòi về nhà, đòi đi đón con, gọi tên người đã mất. Bác sĩ trưởng khoa tôi giải thích bằng nhịp sinh học, bằng ánh sáng yếu đi làm não bộ rối loạn. Nhưng chị điều dưỡng già nhất khoa, chị Mười, có một cách giải thích khác. Chị nói chiều xuống là giờ con người ta được gọi về ăn cơm. Ai cũng từng là đứa nhỏ chạy chơi ngoài đường lúc chạng vạng, nghe tiếng má gọi. Người già mất trí nhớ thì cái tiếng đó còn lại sau cùng.
Tôi nghĩ ông tôi không gọi ai. Tôi nghĩ ông đang lặp lại một tiếng gọi ông đã từng nghe.
Chủ nhật sau, tôi chở ông đi ăn sáng ở một quán bánh canh ngoài thị xã. Kế bên quán có một xe bánh tráng cuốn thịt heo, bảng hiệu ghi bánh tráng phơi sương Trảng Bàng. Ông đang ăn thì ngừng lại, nhìn chằm chằm vào cái xe. Tôi mua một dĩa. Bánh tráng dẻo, mỏng, trắng đục như sương, cuốn thịt heo luộc, rau rừng, chấm mắm nêm.
Ông cầm cuốn bánh lên, chưa ăn, đưa lên mũi ngửi. Rồi ông khóc.
Ông tôi tám mươi hai tuổi chưa bao giờ khóc trước mặt tôi. Kể cả đám tang bà nội. Ông khóc không ra tiếng, nước mắt chảy dọc hai bên mũi, rơi xuống mép bàn nhựa. Bà chủ quán hoảng hồn chạy ra hỏi ông có sao không.
– Bánh má làm. – Ông nói với bà chủ quán. – Bánh này má tui làm.
Tối đó tôi lục tìm. Trảng Bàng ở Tây Ninh, có làng bánh tráng phơi sương, người ta tráng bánh từ chiều, phơi nắng cho khô, rồi chờ tới khuya sương xuống, đem ra phơi lần nữa cho bánh mềm dẻo. Làng đó có nhiều cây thốt nốt. Tôi nhìn những tấm hình trên mạng: những hàng thốt nốt cao vút, ngọn xòe như cây chổi lông gà, mặt trời lặn sau lưng.
Tôi hỏi ba ông nội quê ở đâu. Ba nói Long Khánh chớ đâu, ông cố bà cố chôn ngoài vườn này. Tôi hỏi cô Út. Cô Út nói con hỏi chi chuyện đó, ông là con trai trưởng của ông cố, cả họ ai cũng biết.
Nhưng ông cố có một người con gái còn sống: bà cô Ba của ba tôi, bảy mươi tám tuổi, ở với con cháu dưới Biên Hòa. Tôi xin nghỉ phép một buổi, mua một hộp sữa, xuống thăm bà.
Bà cô Ba nằm trên giường bố, mắt đã mờ, tai còn thính. Tôi kể chuyện Tí Mực, chuyện bánh tráng phơi sương. Bà nằm im nghe hết, rồi bà nắm tay tôi, kéo tôi cúi sát xuống.
– Chuyện này tao hứa với má tao không nói. – Bà nói nhỏ. – Má tao chết rồi, thằng Khả lẫn rồi. Tao không nói thì chẳng còn ai biết.
Bà kể, kể lại lời má bà, vì năm đó bà mới hai tuổi. Tháng Giêng năm năm mươi, ông bà cố đi lễ hội trên núi Bà Đen, đi bằng xe bò, cả đi cả về mất ba ngày. Hội đông nghẹt người, người ta chen nhau leo núi, chen nhau thắp nhang, lạc nhau là chuyện thường. Đêm thứ hai, ngồi dưới chân núi, bà cố thấy một thằng nhỏ chừng sáu tuổi, đen nhẻm, ngồi co ro dưới gốc cây, khóc tới khản cổ, gọi má. Bà cố cho nó ăn, hỏi nó nhà đâu. Nó chỉ nói nhà có cây thốt nốt, má làm bánh tráng. Ở vùng đó nhà nào mà không có thốt nốt, nhà nào mà không làm bánh tráng.
– Ông bà cố có đi tìm không bà?
– Có chớ. – Bà cô Ba nói. – Ở lại thêm ba ngày, đi hỏi, rao, nhờ người ta gọi bằng loa. Không ai nhận. Má tao hồi đó sẩy hai đứa rồi, ba tao muốn có con trai. Ba tao nói: ông trời cho thì mình nuôi. Đem về, đặt tên là Khả. Khả là được, là cho phép. Trời cho phép mình có con trai.
Bà nhắm mắt.
– Nó về nhà tao, cả năm đầu chiều nào nó cũng ra đứng ở cổng, đợi má nó gọi. Má tao đánh đòn hoài, nó mới chịu thôi. Sau này nó quên. Nó quên thiệt. Nó lớn lên, nó là con trai trưởng nhà tao. Má tao bắt cả nhà hứa không nhắc lại.
– Bà có nhớ tên thật của ông không?
Bà cô Ba mở mắt, nhìn lên trần nhà.
– Nó không nói tên. Nó chỉ nói má nó kêu nó là Tí Mực.
Tôi chạy xe về Long Khánh lúc trời đã tối, gió quốc lộ quất rát mặt. Về tới nhà thì ông đã ngủ. Tôi ngồi xuống mép giường ông, nhìn cái lưng gầy nhô xương sống dưới lớp áo thun ba lỗ. Bảy mươi sáu năm ông làm con trai trưởng của một nhà khác, cưới vợ, nuôi bốn đứa con, trồng ba mẫu vườn, cúng giỗ ông bà cố đủ lệ, chưa từng sai một ngày. Không ai biết. Có khi chính ông cũng không biết nữa.
Ông trở mình, mở mắt, thấy tôi.
– Con Thanh hả. – Ông nói. – Ăn cơm chưa con?
– Dạ rồi ông. Ông ơi, má ông tên gì?
Ông nhìn tôi lâu, rồi cười, cái cười móm của người đã rụng gần hết răng.
– Má là má chớ tên gì. – Ông nói. – Con hỏi kỳ.
Rồi ông nhắm mắt, ngủ tiếp.
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt