Chương 2: Đêm thứ hai
Sáng hôm sau, tôi đi chợ mua phấn chì thì nghe chuyện.
Cả chợ Vàm Tre nói về tuồng đêm qua. Bà bán bánh bò kể với bà bán cá rằng ông Hứa Lập đúng là lái lúa ác, năm nay lúa thất mà ông còn ém gạo trong vựa. Bà bán cá cãi lại rằng vựa ông Hứa có nhiêu đâu mà ém, gạo ém nhiều nhứt là vựa bên kia. Hai bà cãi nhau một hồi rồi cùng thở dài, bảo thôi, nhà giàu đứa nào cũng như đứa nấy.
Tôi mua phấn xong, không về ghe liền. Tôi hỏi đường tới vựa ông Hứa Lập.
Vựa ông Hứa nằm cuối chợ, nhỏ hơn vựa ông Khương cả nửa, mái lá chứ không phải mái ngói. Trước cửa vựa có một cái bàn gỗ, trên bàn một cái thúng gạo, một cái gáo dừa, một tấm bảng gỗ không có chữ. Ai đi ngang, đàn bà, con nít, ông già, cầm gáo xúc một gáo gạo rồi đi. Không ai trả tiền. Không ai đứng canh.
Một bà già ngồi bán trầu ở góc đường thấy tôi đứng nhìn, kêu tôi lại.
– Con là người gánh hát hả? – Bà hỏi. – Đêm qua con hát hay lắm. Mà con có biết cái thúng gạo đó không?
Tôi lắc đầu.
Bà kể. Mười năm trước, Vàm Tre đói một trận lớn, nước mặn vô ruộng, lúa chết trắng đồng. Vựa ông Khương đóng cửa, chờ giá. Ông Hứa Lập hồi đó còn trẻ, chân còn lành, mở vựa phát gạo suốt ba tháng. Tháng thứ ba, ghe chở gạo của ông từ chợ Cái Bần về bị lật ở vàm sông, ông nhảy xuống lặn vớt bao gạo, bị chân vịt ghe khác chém vô chân trái. Từ đó ông đi khập khiễng. Từ đó tới giờ, mùa nào lúa thất, trước cửa vựa ông lại có cái thúng gạo đó.
– Năm nay ông Khương giành mối đồn binh, mua lúa ruộng nào cũng trả cao hơn ông Hứa một tiền. – Bà già nói, nhai trầu chậm rãi. – Ông Hứa không có lúa mua, nên năm nay cái thúng gạo nhỏ đi. Con coi đó, thúng đó năm ngoái lớn gấp đôi.
Tôi về ghe, ngồi một mình trong mui tới trưa.
Chiều đó tôi nói với ba. Ba tôi nghe xong thì ngồi im, rồi thở ra một hơi dài.
– Ba biết. – Ba nói. – Hồi sáng ông chủ ghe chở đồ xuống đòi nợ. Ổng nói chừng nào mình lãnh đủ tiền ông Khương thì ổng chờ. Bằng không, ngày mốt ổng kéo ghe đồ đi, gánh mình hết đồ hát.
Hai cha con ngồi nhìn nhau. Ngoài mạn ghe, nước sông chảy ròng ròng.
– Ba ơi. – Tôi nói. – Ông Khương dặn vai lái lúa phải có nốt ruồi. Mà ông không dặn vai khâm sai không được có nốt ruồi.
Ba tôi nhìn tôi rất lâu. Rồi ba bật cười, cái cười mà lâu lắm rồi tôi mới thấy.
Gần giờ hát, gã quản lý vựa ông Khương vén màn bước vô hậu trường, không hỏi ai. Gã đi một vòng, dừng lại sau lưng chú Tư Lành đang ngồi trước gương, nhìn chăm chăm vô má trái chú. Lúc đó tôi mới vẽ xong lớp phấn trắng, chưa kẻ mày.
– Nốt ruồi đâu?
– Vẽ sau cùng. – Tôi nói, không ngẩng lên. – Mực tàu chấm trước thì phấn lem.
Gã đứng đó chờ. Tôi kẻ mày, kẻ mắt, tô môi, chậm như rùa. Ngoài sân trống chầu đã đổ hồi thứ hai. Có người ngoài cổng đình gọi tên gã, nói ông chủ kêu ra bưng nước cho mấy ông trong hội. Gã chửi thề một tiếng rồi đi ra. Tôi nghe tiếng guốc gã khua trên nền gạch xa dần, đặt cây cọ xuống, thở ra một hơi.
Chú Tư Lành nhìn tôi trong gương, nhướng một bên mày vừa kẻ.
Đêm thứ hai, tôi vẽ xong mặt chú Tư Lành vai tên lái lúa trắng bệch như đêm trước, mày xếch, môi mỏng. Má trái chú trơn láng, không có nốt ruồi nào. Chú Tư Lành nhìn vô gương, nhíu mày, rồi nhìn tôi, rồi gật đầu.
Rồi tôi vẽ mặt anh Bảy Đức, kép đóng vai quan khâm sai. Mặt đỏ như son, mày rậm, mắt sáng, râu năm chòm, mặt của người trung. Tôi chấm mực tàu lên đầu cọ, đặt một nốt ruồi to bằng hột tiêu lên má trái anh, sát mép miệng.
Ba tôi dặn thêm anh Bảy Đức một chuyện. Đêm đó, quan khâm sai bước ra sân khấu, đi khập khiễng chân trái.
Dưới sân, lần này không ai cười. Tôi vén góc màn coi. Người ta ngồi im, nhìn ông quan mặt đỏ có nốt ruồi đi khập khiễng từ cửa thành vô chợ, mở kho gạo của tên lái lúa ra phát cho dân. Một bà già ngồi hàng đầu đưa tay lên chùi mắt. Ở cuối sân, sát gốc cây me, ông già chống gậy lại đứng đó như đêm trước. Lần này ông không quay lưng về sớm.
Còn ở hàng ghế hội đình, ông Khương Đỉnh đã thôi phe phẩy quạt từ khi quan khâm sai vừa ló mặt.
Tuồng vãn, ông Khương ra sau màn. Ông không la. Ông đứng trước mặt ba tôi, nói nhỏ, đủ cho cả gánh nghe.
– Bầu Sáu. Tui trả tiền để coi tuồng tui dặn. Đêm mai mà vẫn hát vậy, tui không đưa một đồng nào nữa, mười quan cọc gánh trả lại cho tui. Mà ông nhớ, ghe đồ của gánh ông là ghe của em vợ tui.
Ông đi rồi, cả gánh đứng im. Mười bốn người, không ai nói câu nào. Chú Tư Lành ngồi chùi phấn trên mặt, chùi mãi không sạch. Ba tôi nhìn ra mặt sông tối thui. Tôi ngồi xuống cái rương đồ cũ của má, ôm cây cọ lông chuột vô lòng, nghe tim mình đập thình thịch.
— Hết chương 2 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe