Chương 3: Cái tộ đất quấn dây kẽm
Tôi không ký.
Tôi đi xuống bếp, nơi thằng Điềm đang lặt rau muống cho bữa sáng, con Bé Cơm ngồi bên cạnh bóc vỏ mấy trái chôm chôm. Tôi kêu:
– Điềm. Đi chợ mua cho ba một con cá lóc đồng, cỡ bàn tay rưỡi, còn nhảy. Mua thêm một miếng mỡ heo, một trái dừa xiêm. Đi liền.
Nó ngơ ngác, nhưng đi. Thằng Hai đứng trên nhà nhìn xuống, chưa hiểu chuyện gì.
Hai mươi phút sau thằng Điềm về. Tôi đã nhóm sẵn bếp củi, củi tràm khô chẻ nhỏ. Tôi lấy cái tộ đất, cái tộ có dây kẽm quấn ở quai, đặt lên lửa. Không dùng chảo. Tôi bỏ vô đáy tộ một muỗng mỡ heo, chờ mỡ chảy, rồi bỏ đường thốt nốt vô ngay trong tộ. Đường sôi lăn tăn, sủi bọt vàng, rồi chuyển sang màu hổ phách.
– Nhìn nè. Đừng nhìn màu. Ngửi.
Thằng Điềm cúi xuống, hít.
– Thơm như kẹo đậu phộng là chưa tới. Thơm như cơm cháy là tới. Qua mùi khét một chút xíu, nghe đắng đắng ở cuối mũi, là quá rồi. Mày ngửi thấy mùi cơm cháy chưa?
– Dạ… Dạ có rồi ba.
– Đổ nước dừa vô. Đổ từ từ, đứng xa ra, nó bắn.
Nước dừa đổ vô, cái tộ xèo lên một tiếng, hơi bốc lên trắng xóa. Tôi bỏ cá vào, cá đã cắt khúc, ướp sẵn nước mắm, tiêu, hành tím đập dập. Rồi tôi làm cái điều mà thằng Điềm chưa từng làm: tôi lấy hai cọng sả, đập dập, lót dưới đáy, rồi đặt một miếng gừng nướng lên trên mặt cá, đậy nắp.
– Mẹ mày ngoài Thanh không bỏ gừng. Ở đây cá lóc đồng tanh bùn, phải có gừng nướng cho dậy mùi. Lửa liu riu. Một tiếng rưỡi. Không được mở nắp coi hoài. Mở nắp là mất hơi.
Thằng Hai đã xuống tới chân cầu thang. Nó đứng đó, mặt lạ hoắc.
– Ba… ba biết kho cá hồi nào?
Tôi không quay lại. Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu thấp trước bếp, cái ghế mà bốn mươi năm trước tôi đã ngồi, mỗi sáng từ ba giờ.
– Hai, mày ngồi xuống đây. Điềm, mày ngồi luôn. Ba kể chuyện này một lần, rồi không kể nữa.
Năm tôi hai mươi bảy tuổi, tôi từ Cái Nước, Cà Mau lên cù lao này làm công cho ông ngoại tụi bây, chạy ghe chài chở lúa. Nghèo rớt mồng tơi. Má tụi bây là con gái út ông bà ngoại, bán cơm ở bến đò này. Tôi thương má tụi bây. Ông ngoại không chịu. Ổng nói muốn cưới thì ở rể, làm ba năm cho ổng, ổng coi được thì gả.
Tôi ở rể mười năm, không phải ba. Mười năm đó ông ngoại không cho tôi ngồi chung mâm với khách. Cả xóm bến đò này kêu tôi là thằng ở rể. Có người nói câu y như thằng Hai mới nói hôm qua: rể ở rể như chó chui gầm chạn. Tôi nghe hết.
Má tụi bây bán cơm, nhưng má tụi bây kho cá không ngon. Thiệt. Bả nêm mặn tay, bả nóng tánh, bả không có kiên nhẫn ngồi canh một cái tộ một tiếng rưỡi. Mà khách bến đò ăn cơm là ăn cá kho. Năm thứ hai ở rể, tôi bắt đầu dậy từ ba giờ, xuống bếp kho cá thay bả. Kho theo cách của má tôi dưới Cà Mau, thêm gừng nướng cho hợp con cá đồng ở đây. Kho xong tôi lên ghe chạy lúa. Bảy giờ bả dọn quán, người ta khen cá kho bà Tư. Bả không nói gì. Tôi cũng không nói gì.
– Sao ba không nói? – Thằng Hai hỏi. Giọng nó khàn.
– Nói cho ai? Một thằng ở rể đứng bếp kho cá thì người ta cười vô mặt. Má tụi bây biết tao sợ người ta cười, nên bả nhận. Bốn mươi năm, cả cù lao này tin là bả kho. Bả để tao giữ cái mặt. – Tôi chỉ cái tộ đất. – Cái quai này năm đó tao làm rớt, mẻ, bả lấy dây kẽm quấn lại, nói để vậy cho nhớ. Tao không biết bả muốn nhớ cái gì. Giờ thì tao biết.
Cái tộ trên bếp bắt đầu sôi liu riu, mùi nước màu, mùi gừng nướng, mùi cá quyện lại bò ra khỏi nắp. Thằng Điềm ngồi im, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa.
– Từ hồi bả mất tao không vô bếp nữa. Tao đứng ngoài, nhìn thằng Điềm kho hỏng hai chục lần, tao biết nó sai chỗ nào, mà tao không nói. Tao không nói vì tao ghét nó. – Tôi quay sang thằng Điềm. – Không phải ghét mày. Tao ghét cái thằng ở rể mười năm trong tao. Thấy mày đeo tạp dề, thấy người ta cười mày, tao như thấy lại tao. Tao muốn mày bỏ đi cho rồi, để tao khỏi phải nhìn.
Thằng Điềm cúi đầu xuống thấp hơn nữa.
– Con không biết, ba.
– Mày không biết. Tao biết, mà tao làm y như ông ngoại nó làm với tao.
Tôi quay sang thằng Hai.
– Còn mày. Mày nói rể ở rể là chờ hưởng đất. Cái nền này là của ông ngoại mày. Ổng cho tao, sau mười năm tao ở rể. Ổng cho tao chớ không cho má mày, vì ổng nói thằng này giữ được. Mày nói thằng Điềm là người ngoài. Vậy tao cũng là người ngoài. Mày muốn đuổi người ngoài thì đuổi tao trước.
Thằng Hai ngồi phịch xuống bậc cầu thang.
– Ba… con không có ý đó.
– Tao biết mày không có ý đó. Mày có nợ. Mày sợ. Tao biết. – Tôi thở ra. – Nghe ba nói. Nền này ba không bán. Ba còn sống thì không ai bán. Ba nhắm mắt rồi thì luật chia sao, tụi bây chia vậy, con Út với mày ngang nhau, ba không làm di chúc cho đứa nào hơn đứa nào. Còn bốn trăm triệu của mày, chiếc ghe chài của ba neo dưới bến, máy còn tốt, bán được hai trăm rưỡi. Ba bán, đưa mày trả bớt tiền lời. Phần còn lại mày tự lo. Mày là đàn ông, mày lo được.
Anh Kiệt đứng trên nhà, cái bìa nhựa xanh kẹp dưới nách, đã đi ra xe từ lúc nào tôi cũng không để ý.
Thằng Hai ngồi im một hồi lâu. Rồi nó đứng dậy, đi lên nhà trên. Tôi nghe tiếng giấy xé, xé làm hai, làm bốn. Nó đi xuống lại, ngồi bên thằng Điềm, nhìn cái tộ.
– Ba. Mở nắp ra coi được chưa?
– Chưa. Một tiếng rưỡi. Mở là mất hơi.
Ba người đàn ông ngồi trước bếp củi một tiếng rưỡi đồng hồ, không ai nói câu nào. Con Bé Cơm ngủ gục trên đùi cha nó. Ngoài bến, chiếc đò thứ ba trong buổi sáng kéo còi.
Khi tôi mở nắp, nước kho đã rút xuống sệt, bám quanh từng khúc cá một lớp màu cánh gián non, bóng như phết dầu. Thằng Điềm gắp một miếng, thổi, đưa lên miệng. Nó nhai chậm. Rồi nó để đũa xuống, quay mặt đi chỗ khác, đưa cái tạp dề hoa lên chùi mắt.
– Đây là mùi của má… – Nó nói, rồi sửa lại. – Đây là mùi của ba.
Thằng Hai gắp một miếng, ăn, không nói gì, nhưng gắp thêm miếng nữa.
Hai tuần sau tôi bán chiếc ghe chài. Thằng Hai lấy tiền, về Thủ Đức, sang lại cái quán nhậu, xin vô làm quản lý cho một nhà hàng. Tháng rồi nó gọi về, không nói chuyện đất, chỉ hỏi cá kho phải bỏ bao nhiêu gừng.
Cái quán lá trước nhà mở cửa lại vào rằm tháng Bảy. Mấy cái bàn gỗ được lau sạch, mấy cái ghế nhựa đỏ được rửa bằng nước xà bông. Ba giờ sáng thằng Điềm xuống bếp. Tôi xuống sau nó mười phút, ngồi cái ghế đẩu thấp, không đụng tay, chỉ ngửi.
Bà Năm Đẹt qua ăn dĩa cơm đầu tiên. Bả gắp miếng cá, nhai, rồi ngẩng lên nhìn thằng Điềm đang đeo cái tạp dề hoa đứng sau nồi cơm.
– Mầy học bà Tư hồi nào mà kho giống dữ vậy?
Thằng Điềm nhìn tôi. Tôi lắc đầu.
– Dạ, má dạy con. – Nó nói.
Bà Năm Đẹt gật gù, ăn tiếp. Ngoài bến, nắng lên trên mặt sông Tiền, đỏ như nước màu vừa tới.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt