Chương 1: Nước màu cánh gián
Thằng Điềm thắng nước màu khét lẹt lần thứ ba thì tôi chịu hết nổi, chống gậy đi xuống bếp.
– Bắc chảo xuống. Bắc xuống liền!
Nó giật mình, nhấc cái chảo gang ra khỏi bếp củi, khói đen bốc lên mùi đường cháy ngai ngái, xông tới tận sàn nước. Con Bé Cơm, con gái nó, mới hai tuổi, ngồi trên cái ghế đẩu lấy tay bịt mũi, cười khanh khách như coi hát. Thằng Điềm đứng đó, cái tạp dề hoa của vợ nó buộc ngang bụng, hai tay cầm hai cái giẻ lót nồi, mặt đỏ như người ta mới mắng nó giữa chợ.
– Con xin lỗi ba. Con canh kỹ rồi mà nó lên màu nhanh quá.
– Đường thốt nốt không phải đường cát. Nó ngọt sâu, nó bén lửa. Mày canh bằng mắt thì trễ rồi. Phải canh bằng mũi.
Nói xong tôi mới thấy mình lỡ miệng. Tôi quay lưng đi lên nhà trên, để mặc nó cạo cháy dưới đáy chảo. Nó không hỏi gì thêm. Thằng nhỏ này ít hỏi, hỏi thì cũng nói nhỏ như sợ làm động cái nhà.
Nhà tôi ở đầu bến đò cù lao Giêng, đò qua sông Tiền một chuyến mười lăm phút. Ba chục năm nay cái quán cơm dưới mái lá trước nhà là quán của bà Tư. Ai đi đò sớm cũng ghé ăn một dĩa cơm cá kho, chén canh chua bông điên điển, giá hồi đó năm ngàn, giờ ba mươi lăm ngàn. Người ta nói không ai kho cá lóc bằng bà Tư Thới. Hai năm trước bả đi, cái quán đóng cửa, mấy cái bàn gỗ chồng lên nhau trong góc, mấy cái ghế nhựa đỏ phủ bụi phấn.
Rồi vợ chồng con Út dọn về.
Con Út Thêu là con gái út của tôi, làm điều dưỡng bệnh viện trên Long Xuyên, ca đêm nhiều hơn ca ngày. Thằng Điềm là chồng nó, người Hậu Lộc, Thanh Hóa, đi làm thợ hồ dưới Bình Dương. Hai đứa quen nhau trong bệnh viện, cái hồi thằng Điềm té giàn giáo gãy chân, nằm hai tháng, con Út thay băng cho nó. Đám cưới tôi không chịu, bà Tư chịu. Bả nói thằng nhỏ hiền, ăn cơm biết chừa phần người khác. Tôi nói hiền mà nghèo thì vợ nó cực. Bả cười, nói hồi đó ông cũng nghèo mà.
Bả mất, nhà còn mình tôi với con chó vện. Con Út sợ tôi ở một mình, nói hoài, rồi nó dắt chồng con về. Thằng Điềm bỏ công trình dưới Bình Dương, lên đây kiếm việc không ra, chạy xe ôm mấy tháng thì người ta có ứng dụng gọi xe, khách đứng đầu bến bấm điện thoại chớ không ngoắc tay nữa. Nó ở nhà. Sáng nó dậy nấu cơm cho vợ đi làm, cho con ăn, giặt đồ, quét nhà, chiều ra sông thăm lờ, tối ngồi vá lưới thuê cho mấy ghe cá. Lâu lâu có ai kêu xây cái hàng rào, đổ cái nền chuồng heo, nó đi.
Xóm bến đò này cái gì cũng biết. Người ta không nói trước mặt tôi. Người ta nói ở quán nước bà Năm Đẹt, nói đủ lớn cho tôi nghe khi tôi đi ngang.
– Rể ở rể như chó chui gầm chạn. Thằng đó ăn cơm nhà vợ, ngủ giường nhà vợ, mai mốt ông Tư nhắm mắt là nó hưởng.
– Đàn ông gì đeo tạp dề phơi đồ lót của vợ ngoài sân.
Tôi không cãi. Bảy mươi mốt tuổi rồi, cãi với ai. Mà nói thiệt, mỗi lần đi ngang thấy nó ngồi chồm hổm ngoài sân phơi đồ, cái tạp dề hoa cột ngang bụng, tôi cũng thấy nóng mặt. Không phải nóng vì nó. Nóng vì một chuyện khác, chuyện mà cả cái cù lao này không ai còn nhớ.
Từ hồi về, thằng Điềm tập kho cá. Nó nói con Út thèm cá kho của má. Nó lục trong tủ chén ra cái tộ đất của bà Tư, cái tộ đen bóng, miệng sứt một miếng bằng móng tay, quai bên trái ai đó lấy dây kẽm quấn lại ba vòng. Nó rửa sạch, phơi nắng, rồi ngày nào cũng mua một con cá lóc đồng ở chợ, kho thử.
Lần thứ nhất mặn chát. Lần thứ hai cá bở. Lần thứ năm thì nước kho ngọt lợ như chè. Lần nào nó cũng bưng lên một chén nhỏ, để trước mặt tôi, đứng chờ.
– Ba nếm giùm con. Có giống của má không ba?
– Không.
Tôi chỉ nói một chữ đó, rồi ăn hết chén cơm. Tôi không nói nó sai chỗ nào. Mà tôi biết. Tôi biết từng chỗ.
Chiều hôm đó, sau vụ nước màu khét, thằng Hai Bền gọi về. Nó là con trai lớn của tôi, mở quán nhậu ở Thủ Đức, mười năm nay về nhà đếm trên đầu ngón tay. Tiếng nó trong điện thoại lớn, có tiếng xe chạy, tiếng ai cụng ly.
– Ba, giỗ má con về. Con về sớm một bữa. Có chuyện quan trọng.
– Chuyện gì?
– Chuyện cái nền nhà. Ba gom giấy tờ sổ đỏ để sẵn giùm con. Con dẫn người ta về coi luôn.
Nó cúp máy trước khi tôi kịp hỏi người ta là ai.
— Hết chương 1 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt