Chương 1: Cái lờ bắt cá
Mười giờ sáng ngày hai mươi lăm tháng Ba, tôi đứng giữa bãi cát sau trường, nhìn mười hai cây tre nằm dài dưới đất, và biết chắc lớp mình sẽ thua.
Bên kia, cách chừng ba chục mét, lớp 11A1 đang dựng khung gỗ cho cổng trại. Một chiếc xe ba gác chở đến tấm bạt in màu rộng bốn mét, cao ba mét, in hình con thuyền buồm vàng rực giữa sóng xanh, góc trên có dòng chữ tên lớp uốn lượn như ruy băng. Phụ huynh lớp đó góp tiền thuê in, nghe nói hết một triệu tám. Tụi A1 đứng vây quanh, vỗ tay khi tấm bạt được giăng lên, căng phẳng như mặt trống.
Lớp tôi, 11A7, lớp thường cuối cùng của khối, có quỹ trại là năm mươi nghìn mỗi đứa, ba mươi chín đứa, trừ tiền gạo, tiền củi, tiền mua dây điện kéo đèn, còn đúng hai trăm ba mươi nghìn cho cổng trại. Hai trăm ba mươi nghìn thì in được cái băng rôn cỡ cái chiếu.
Tôi là lớp trưởng. Tên tôi là Thơi. Tuần trước, trong giờ sinh hoạt, tôi đã đứng trước lớp đề nghị mỗi đứa góp thêm hai chục để in một tấm bạt nhỏ, cho đỡ mất mặt. Không ai giơ tay. Rồi Tuyên, đứa ngồi bàn cuối, đứa từng ở lại lớp một năm, đứa cả lớp ít khi nghe nói quá ba câu, đứng dậy:
– Để tui lo cái cổng. Không tốn tiền.
Cả lớp quay xuống nhìn nó. Tuyên mười bảy tuổi, cao hơn mọi đứa con trai trong lớp một cái đầu, da đen bóng như cột nhà phơi nắng, hai bàn tay chai sần. Ai cũng biết cuối tuần nó đi phụ hồ cho ông chú ở mấy công trình bên Nhơn Bình, dựng giàn giáo, trộn hồ, khiêng gạch. Năm lớp Mười, má nó bệnh nằm viện ở Quy Nhơn ba tháng, nó nghỉ học vào chăm, rồi bị ở lại lớp. Từ đó nó ít nói hẳn.
Chiều thứ Bảy, tôi đạp xe sang Nhơn Bình, tìm đến bãi vật liệu của ông chú nó, định bụng nói thẳng: thôi, để lớp góp tiền in bạt, đừng làm lớp mình thành trò cười. Bãi nằm sát một con mương, chất đầy gạch, cát, sắt cây, và những bó tre giàn giáo dựng nghiêng vào vách tôn. Tuyên đang vác một bó tre trên vai, mồ hôi chảy thành dòng trên lưng áo.
Ông chú nó, một người đàn ông đen sạm, cởi trần, ngồi trên đống cát hút thuốc, thấy tôi thì hỏi:
– Bạn thằng Tuyên hả con? Lớp trưởng hả?
– Dạ.
– Nó nói lớp nó cần tre làm cổng. Chú cho mười hai cây, tre già, dựng giàn ba năm chưa cây nào gãy. – Ông chú nhả khói, nhìn theo Tuyên. – Thằng này nghe tre như nghe người. Hồi má nó nằm viện, nó theo chú đi làm, ba tháng thôi mà chú dựng giàn chỗ nào là chú để nó chọn tre chỗ đó.
Tôi đứng đó, câu định nói nằm nguyên trong miệng. Tuyên đặt bó tre xuống, quay lại, thấy tôi, hơi ngạc nhiên.
– Bà qua chi vậy?
– Qua coi tre. – Tôi nói dối.
Nó gật đầu, rút trong bó ra một cây, gõ sống dao vào đốt, đưa tai tôi lại gần. Tiếng kêu đục, trầm, như tiếng ai gõ cửa gỗ. Tôi đạp xe về, không nói gì về tấm bạt nữa.
Giờ nó đang ngồi xổm giữa đống tre, dùng cái dao rựa vót từng thanh lạt mỏng như tờ giấy. Mười hai cây tre là tre giàn giáo cũ của ông chú, đã phơi khô, vàng ruộm, đầu đốt còn dính vệt vữa xi măng. Tuyên cầm một cây lên, gõ nhẹ vào đầu gối bằng sống dao, ghé tai nghe.
– Gõ làm gì vậy?
– Tre già kêu đục. Tre non kêu thanh. – Tuyên nói, không ngẩng lên. – Cây kêu thanh làm khung là gãy.
Nó bỏ cây đó sang một bên, cầm cây khác lên gõ.
Đến trưa, cái khung cổng đã đứng: hai trụ tre to buộc chụm ba ở mỗi bên, một thanh ngang trên đỉnh, chân trụ chôn sâu xuống cát gần nửa mét, đổ thêm mấy xô đá. Tuyên bắt đầu đan những tấm vách bằng nan tre giữa hai trụ. Nó đan theo kiểu mắt cáo, những lỗ hình thoi to cỡ bàn tay, chừa trống. Cứ đan được một hàng, nó lại bỏ trống một hàng.
– Sao không đan kín? – Thằng Vĩ hỏi, tay cầm ổ bánh mì. – Thủng lỗ chỗ vậy giống cái lờ bắt cá quá.
– Gió phải có đường đi.
– Gió gì? Trời nắng chang chang mà.
Tuyên không trả lời. Nó đan tiếp.
Tụi A1 đi ngang, liếc qua. Thằng Hào, lớp trưởng A1, đứa từng học chung lớp với tôi hồi cấp hai, dừng lại, nhìn cái cổng tre một lúc rồi cười:
– Lớp bảy dựng cổng trại hay dựng chuồng gà vậy Thơi?
Tôi không đáp. Mặt tôi nóng ran. Tôi biết cái chuồng gà ấy mà đứng cạnh con thuyền buồm vàng rực của A1, thầy cô chấm cổng trại sáng mai sẽ nhìn bên nào.
Đầu giờ chiều, Tuyên làm một việc kỳ lạ. Nó lấy cái la bàn nhỏ bằng nắp chai, loại người ta bán ở chợ cho học sinh, đặt lên cát trước cổng, xoay xoay. Rồi nó hỏi tôi:
– Sáng mai mấy giờ thầy cô đi chấm cổng?
– Bảy giờ. Sao?
– Không sao.
Rồi nó lấy cái thước dây của ông chú, đo đi đo lại thanh ngang trên đỉnh cổng. Rồi nó leo lên, ngồi vắt vẻo trên đó, đan một tấm vách nhỏ dài chừng hai mét, lần này đan dày hơn, kín hơn, nhưng lại chừa những lỗ hở có hình thù rất lạ, chỗ thì thẳng, chỗ thì cong, không theo kiểu mắt cáo nào. Thằng Vĩ đứng dưới nhìn lên, bảo nó đan như gà bới. Tuyên vẫn không trả lời.
Bốn giờ chiều, khi lều trại đã dựng xong, bếp đã đào, củi đã chất, tôi đang ngồi viết danh sách phân công gác đêm thì nghe tiếng thằng Vĩ kêu:
– Ê, nhìn kìa!
Phía tây, chỗ dãy núi Vũng Chua, một khối mây đen kịt đang trườn xuống, nhanh như ai kéo tấm màn. Gió đổi chiều. Cát trên sân bắt đầu bốc lên thành từng vệt mỏng, quất vào chân. Mấy lá cờ trại của các lớp phần phật như muốn bứt khỏi cán.
Tuyên đứng dậy khỏi bếp. Nó không nhìn trời. Nó nhìn sang phía tấm bạt in màu bốn mét của lớp A1.
— Hết chương 1 —
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe