Chương 3: Buổi thứ chín: một muỗng nhỏ
Buổi thứ chín, còn mười ngày nữa là giỗ đầu bà Diệu. O Ánh dậy từ năm giờ sáng, đi chợ Đông Ba, mua cá bông lau, mua me, mua thơm, mua bạc hà, mua đúng như buổi thứ nhất. Rồi o ghé nhà một người bạn cũ, bà Mai, người cùng xóm Vỹ Dạ với bà Diệu hồi nhỏ, ngồi uống với bà một chén trà, hỏi bà mấy câu.
Tám giờ, ông Cảnh tới. Ông thấy trên thớt toàn đồ của canh chua, nhíu mày.
– Học lại món đầu à o?
– Bữa ni ông không nấu. – O Ánh nói. – Bữa ni tôi nấu. Ông ngồi đó, nếm.
Ông Cảnh ngồi xuống cái ghế đẩu, hai tay đặt trên đầu gối, như học trò bị phạt. O Ánh nấu. O nấu y như buổi thứ nhất, từng bước, me dầm, cá thả khi nước sủi tăm, thơm, cà, đậu bắp. Chỉ khác một chỗ. Tới lúc nêm, o không dùng hũ muối của o. O với tay lên kệ, lấy cái hũ sành nhỏ men nâu của ông, mở nắp, rút cái muỗng nhôm bé xíu.
O nêm một muỗng. Rồi o dừng.
Ông Cảnh nhìn tay o. O để cái muỗng lại vô hũ, đậy nắp. Không nêm thêm.
– Có một muỗng rứa thôi à? – Ông hỏi.
– Một muỗng thôi.
Rồi o nêm mắm, cũng nửa phần o hay nêm. Chua thì o cho thêm me. Thơm thì o cho thêm thơm. Cái gì làm vị đậm lên mà không cần mặn, o cho thêm. Nồi canh sôi, o tắt bếp, rắc bạc hà, giá, ngò om. O múc một chén, đặt trước mặt ông.
Ông Cảnh cầm muỗng, múc một muỗng canh, thổi, đưa lên miệng.
O Ánh đứng bên cạnh, nhìn ông. Ông không nhai. Ông ngồi im, muỗng canh còn trong miệng, mắt nhìn xuống cái chén. Rồi ông nuốt. Rồi ông múc muỗng thứ hai. Rồi muỗng thứ ba. Ông ăn hết chén canh không ngẩng đầu lên lần nào. Ăn xong, ông đặt cái chén xuống, đẩy về phía o.
– O cho tôi chén nữa.
O múc chén thứ hai. Ông ăn hết. Chén thứ ba. Ông ăn tới nửa chén thì dừng lại, hai tay ôm cái chén, cúi đầu, vai rung.
O Ánh không nói gì. O ngồi xuống cái ghế đẩu bên cạnh ông, cách một sải tay, nhìn ra giàn bầu.
Mãi lâu sau, ông mới hỏi, giọng khàn:
– Răng o biết?
– Cái muỗng. – O nói. – Buổi đầu ông đưa tôi coi cái hũ muối, tôi thấy cái muỗng nhỏ quá. Người Huế nêm muối bằng muỗng canh, chí ít cũng muỗng cà phê. Không ai nêm cỗ cho cả họ bằng cái muỗng con nít như rứa. Rồi bữa trước tôi thấy ông uống thuốc huyết áp, ông nói uống từ năm bốn mươi tuổi. Sáng ni tôi hỏi bà Mai ở Vỹ Dạ, bạn của bà Diệu hồi nhỏ.
– Bà Mai nói chi?
– Bà Mai nói, năm ông bốn mươi tuổi, ông bị tai biến nhẹ ở công trình ngoài Quảng Trị, nằm viện một tuần. Ông có nhớ không?
Ông Cảnh gật đầu. Ông nhớ. Ông nhớ mình nằm viện, bác sĩ dặn bỏ thuốc lá, ăn nhạt, ông bỏ được thuốc lá, còn ăn nhạt thì ông nói đàn ông Huế ăn nhạt răng được, ông không nghe.
– Bà Mai nói, từ hồi ông nằm viện về, bà Diệu đi chợ mua cái muỗng nhôm nhỏ đó. Bà nói với bà Mai: "Ổng không chịu ăn nhạt thì tui nấu nhạt, ổng chê thì ổng chê." Mà bà nấu nhạt cho ông thì bà bỏ thêm me, thêm thơm, thêm tiêu, thêm hành phi, cho ông khỏi thấy thiếu. Bà nấu như rứa hai mươi ba năm. Ông chê hai mươi ba năm. Bà không nói.
Ông Cảnh ngồi im. Ngoài sông Hương có tiếng máy đò chạy ngang, xa dần.
– Rứa là… – Ông nói, rồi dừng. – Rứa là không phải bả nấu dở.
– Bà nấu cho ông sống. – O Ánh nói. – Ông sống được tới bữa ni, ngồi đây chê canh tôi, là nhờ cái muỗng đó.
Mười ngày sau, giỗ đầu bà Diệu. Con trai từ Đà Nẵng về, con gái từ Sài Gòn bay ra, họ hàng bên Tôn Thất đông đủ. Ông Cảnh dậy từ ba giờ sáng, nấu một mình trong cái bếp mà bốn mươi năm ông chưa đứng. O Ánh không tới phụ, ông không cho. Ông chỉ mời o tới ăn giỗ, như một người khách.
Mâm giỗ có canh chua cá bông lau, có tôm chua, có bánh lọc, có canh bầu, có cá bống thệ kho tiêu trong cái nồi đất mẻ miệng. Món nào ông cũng nêm bằng cái muỗng nhôm nhỏ, một muỗng, rồi dừng.
Mấy ông chú trong họ ăn xong, chép miệng, nói canh hơi nhạt. Con gái ông nếm chén canh chua, rồi bỏ muỗng xuống, ngồi khóc ngay giữa mâm. Nó nói: "Ba ơi, canh của mẹ." Ông Cảnh không nói gì. Ông gắp cho con một miếng cá.
O Ánh ngồi ở mâm cuối, cạnh mấy bà trong xóm, ăn một chén canh. Nhạt. Nhạt hơn o vẫn nấu nhiều lắm. Mà chua thanh, mà thơm, mà ngọt cá, mà chén thứ hai lúc nào hết không hay.
Giỗ xong, khách về hết. Ông Cảnh tiễn o ra cổng. Tới cổng, ông dừng lại.
– Khóa học của o mười buổi. Tôi mới học chín.
– Giỗ xong rồi. Ông học chi nữa?
Ông Cảnh nhìn ra con đường làng, rồi nhìn lại o.
– Buổi thứ mười, tôi muốn học món o thích. – Ông nói. – Chín buổi o dạy tôi nấu món của người khác. Tôi chưa hỏi o thích ăn chi.
O Ánh đứng ở cổng một lúc lâu. Năm mươi tám tuổi, o chưa lấy chồng, nấu ăn cho cả trăm người học trò, chưa ai hỏi o thích ăn chi.
– Tôi thích ăn mặn. – O nói. – Mặn mòi, đậm, đúng kiểu Huế.
Ông Cảnh gật đầu, như ghi nhận một thông số công trình.
Thứ Sáu tuần sau, buổi thứ mười, ông Cảnh tới bếp sau vườn ở Kim Long, đeo cái tạp dề đã hết nếp gấp, tay cầm cái hũ sành nhỏ men nâu. O Ánh nhìn cái hũ, rồi nhìn ông.
– Tôi thích ăn mặn mà.
– Tôi biết. – Ông nói, đặt cái hũ lên kệ. – O nêm phần o bằng muỗng của o. Phần tôi, o nêm bằng cái ni.
O Ánh cầm cái muỗng nhôm nhỏ lên, xoay xoay trong tay, nhìn cái cán đã mòn vì một bàn tay khác suốt hai mươi ba năm. Rồi o múc một muỗng muối, nêm vào nồi canh, và dừng lại.
– Nhạt hơn một chút. – O nói, không nhìn ông. – Tôi ăn rồi cũng quen.
— Hết —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe