Chương 3: Chén trà không đè nắp
Sáng hôm sau, tôi làm một việc mà ba mươi năm làm dâu xứ Huế tôi chưa làm bao giờ. Tôi đi hỏi chuyện nhà người ta.
Kim Long tôi có bà chị họ lấy chồng ở đó năm mươi năm. Chị Phương bảo dòng họ Tôn Thất ở Kim Long chị biết gần hết, nhà rường năm gian bên sông thì có ba nhà, chẳng nhà nào có cụ thượng thư triều Thành Thái. Cái tên Mơn, chị chưa nghe bao giờ. Rồi chị gọi điện cho mấy bà bạn già trong hội dưỡng sinh, cả buổi sáng, cuối cùng có một bà nhận ra người trong cái ảnh con bé Cẩm chụp lén hôm qua.
Bà Mơn không phải người Kim Long. Bà ở một xóm bên chợ An Cựu, góa chồng, sống một mình, mấy năm nay thỉnh thoảng được người ta thuê đi khóc đám, đi đóng vai bà nội bà ngoại cho các đám hỏi, đám cưới vắng người. Bà nói giọng Huế cổ vì bà là người Huế cổ thật, chỉ có ông nội bà không phải thượng thư. Ông nội bà là người kéo xe tay ở cửa Thượng Tứ.
Buổi chiều, mụ Duyến bảo thằng Vĩnh đưa cái ấm của ông Lâm ra bàn, đặt cạnh tấm ảnh chiếc ấm anh Khánh chụp gửi qua điện thoại. Mụ không nói gì về đồ cổ. Mụ chỉ bảo thằng Vĩnh mời người biết việc tới xem.
Thằng Vĩnh mời được một ông chuyên gia gốm làm ở bảo tàng, bạn học cũ của nó. Ông xem ảnh, xem cái ấm của ông Lâm, rồi xin hẹn anh Khánh mang ấm tới trước lúc giao tiền để ông được cầm tận tay. Thằng Vĩnh gọi cho anh Khánh, nói khéo là bạn nó muốn ngắm thêm. Anh Khánh bảo được, nhưng sáng thứ Bảy anh bận, anh gửi người mang tới.
Người mang tới là một thanh niên đi xe máy, ôm cái hộp gỗ trước bụng. Ông chuyên gia mở hộp, cầm cái ấm lên, soi đèn pin vào lòng ấm, gõ nhẹ móng tay lên thân, đưa lên mũi ngửi, rồi lật đáy lên xem hai chữ triện bằng kính lúp. Ông làm rất chậm, rất lâu, không nói một lời. Cuối cùng ông đặt ấm xuống.
– Đất Nghi Hưng thật. Nhưng là đồ làm mới, chừng năm bảy năm nay thôi. – Ông nói. – Lớp bóng ngoài thân là người ta đánh bằng dầu với sáp, mài bằng vải nỉ. Trong lòng ấm có màu nâu nhưng không có mùi trà, chỉ có mùi thuốc nhuộm. Một cái ấm dùng ba mươi năm, tráng nước sôi không cũng ra mùi trà. Còn hai chữ triện thì khắc đúng mẫu, nhưng mẫu ấy in trong sách người ta bán ngoài hiệu sách.
Thằng Vĩnh ngồi im. Rồi nó cầm điện thoại lên, nhưng không gọi cho anh Khánh. Nó gọi cho công an phường.
Người của phường tới, nghe, ghi, rồi bảo thằng Vĩnh cứ để người thanh niên mang ấm về, đừng nói gì, chiều hẹn anh Khánh tới nhận tiền như đã định.
Bốn giờ chiều, anh Khánh tới, vẫn áo dài the lam, tay xách hộp gỗ, miệng cười. Thằng Vĩnh mời anh ngồi. Mụ Duyến bưng ra cái ấm của ông Lâm, bảo hôm nay mụ mời, trà Thái của Hà Nội.
– Anh rót giúp tôi. – Mụ nói. – Tôi già, tay run.
Anh Khánh cầm ấm. Tay phải cầm quai, ngón trỏ cong cong đặt lên núm nắp, đè xuống, rồi nghiêng. Dòng trà chảy đều vào bốn cái chén, không sánh một giọt. Anh rót đẹp như người rót trà cả đời.
– Anh rót đẹp. – Mụ Duyến nói. – Đẹp hơn bà cụ Mơn nhiều.
Anh Khánh cười, nhưng cái nắp ấm dưới ngón tay anh kêu lạch cạch một tiếng rất khẽ, như có ai vừa đặt tay lên vai anh từ phía sau.
– Người rót trà đẹp thế, sao lại đi thuê một bà cụ cả đời chưa rót trà bao giờ để kể chuyện rót trà? – Mụ hỏi, nhẹ như hỏi giá chè.
Anh Khánh không trả lời. Anh nhìn ra cổng. Ở đó, hai người mặc thường phục vừa dựng xe.
Còn chuyện anh từng học thầy Lâm, thì sau này tôi lật lại sổ điểm cũ của ông. Năm tám mươi tám, ông nhà tôi còn đang dạy ở Hà Nội.
Chuyện sau đó, tôi biết qua thằng Vĩnh. Người ta mời anh Khánh về phường làm việc. Lúc đầu anh bảo anh cũng bị lừa, anh mua lại của người khác. Đến khi công an mời bà Mơn lên, bà kể hết, không giấu một câu. Anh Khánh thuê bà năm lần, mỗi lần ba triệu, đóng năm vai cháu nội của năm nhà quan khác nhau, ở năm phòng khách khác nhau, kể năm câu chuyện mà anh viết sẵn cho bà học thuộc. Bà bảo bà biết đó là chuyện bịa, nhưng bà tưởng chỉ là chuyện làm ăn, người mua giàu, mất một ít cũng không sao. Bà già rồi, ba triệu là tiền điện nước cả hai tháng.
Thằng Vĩnh lấy lại được một trăm triệu tiền cọc, sau ba tháng. Những người mua năm cái ấm kia thì người lấy lại được, người không, vì có người đã bán sang tay người khác.
Bà Mơn không bị truy cứu, vì người ta xác định bà không hưởng lợi gì ngoài tiền công và không biết hết việc làm của anh Khánh. Bà về xóm bên chợ An Cựu. Nghe nói bà không đi đóng vai cháu nội cho ai nữa.
Một buổi sáng trước hôm mụ Duyến ra Hà Nội, bà Mơn tìm đến nhà tôi. Bà đứng ở cổng, tay cầm một bịch mè xửng, áo dài nâu cũ, không dám vào. Tôi ra mời, bà cũng không vào. Bà chỉ hỏi bà cụ Hà Nội đâu.
Mụ Duyến ra cổng. Hai bà già đứng đối diện nhau, một người cao, một người thấp, một người tóc búi củ hành, một người tóc cắt ngắn ngang tai.
– Bà nhìn tay tui mà biết hả? – Bà Mơn hỏi.
– Vâng.
Bà Mơn nhìn xuống đôi bàn tay mình, đôi bàn tay khô, nổi gân, móng tay vàng vì cả đời rửa bát thuê, đi bán bánh bèo.
– Cả đời tui có pha trà mô. Tui uống nước chè xanh hái trong vườn, nấu cả nồi, múc bằng gáo. Ông nội tui kéo xe, có uống trà ấm mô mà biết.
– Thế thì cụ nói đúng mấy chuyện ấy, ai dạy?
– Ông Khánh viết ra giấy, tui học thuộc. Tui chỉ thêm cái tiếng chuông chùa. Cái đó tui nghe thật. Hồi con gái tui đi bán bánh bèo dưới chân chùa, sáng mô cũng nghe.
Mụ Duyến im một lúc. Rồi mụ quay vào nhà, bảo con bé Cẩm mang ra cái ấm Thế Đức của ông Lâm, một cái chén, và phích nước sôi. Mụ ngồi xuống cái ghế đẩu ngay ở cổng, bỏ trà, rót nước, đậy nắp. Rồi mụ đặt cái ấm vào tay bà Mơn.
– Cụ rót đi. Tay phải cầm quai. Ngón trỏ đặt lên núm nắp, đè xuống. Đặt vào trước, rồi mới nghiêng.
Bà Mơn cầm ấm. Ngón trỏ gầy guộc, run run, dò tìm cái núm nắp như người mù dò ổ khoá. Rồi bà nghiêng. Dòng trà màu hổ phách chảy xuống chén, đều, không sánh ra một giọt. Cái nắp nằm yên.
Bà Mơn nhìn chén trà, rồi bật cười, cái cười móm mém của người tám mươi tuổi lần đầu làm được một việc.
– Rứa là được hả bà?
– Được rồi. – Mụ Duyến nói. – Giờ cụ uống đi. Chén đầu tiên của người rót, bao giờ cũng là chén ngon nhất.
— Hết —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám