Chương 2: Bà cháu nội cụ thượng thư
Anh Khánh tới đúng ba giờ chiều, đi một chiếc ô tô đen, mặc áo dài the màu lam như người ta đi lễ chùa. Anh ngoài năm mươi, tóc chải ngược, nói giọng Huế pha Sài Gòn, câu nào cũng ngọt. Anh dìu theo một bà cụ nhỏ thó, tóc búi củ hành, áo dài nâu sẫm, tay cầm cái quạt giấy. Anh giới thiệu là bà Tôn Thất Thị Mơn, cháu nội cụ thượng thư.
Chiếc ấm được đặt lên bàn, trên một tấm khăn nhung đỏ. Gan gà, màu đỏ nâu như gạch nung lâu năm, thân tròn như quả hồng, vòi cong, quai uốn. Dưới đáy có hai chữ triện. Mặt ngoài ấm có lớp bóng mờ, cái bóng của tay người ta xoa mấy chục năm. Thằng Vĩnh cầm lên ngắm, mắt sáng rỡ. Tôi phải thú thật, tôi cũng thấy đẹp, đẹp hơn cái ấm của ông nhà tôi.
Bà Mơn kể chuyện. Bà kể rất hay, giọng Huế cổ, chậm, ngọt, có những chữ mà người Huế bây giờ không ai dùng nữa. Ông nội bà mỗi sáng dậy từ năm giờ, ngồi ở nhà rường năm gian bên bờ sông Kim Long, nghe tiếng chuông chùa Thiên Mụ vọng qua, rồi mới pha trà. Từ năm bà lên mười, bà là đứa cháu được ông chọn rót trà. Hai mươi năm, sáng nào bà cũng rót. Cái ấm này, ông nội để lại cho cha bà, cha bà để lại cho bà. Giờ con cháu làm ăn thất bát, nợ ngân hàng, bà mới đành.
– Chừ bán đi, như bán một khúc ruột. – Bà nói, lấy khăn chấm mắt.
Thằng Vĩnh cảm động thật sự. Tôi cũng thấy cay mắt. Anh Khánh ngồi bên, im lặng, như người không muốn chen vào nỗi buồn của người khác.
Mụ Duyến ngồi ở đầu bàn, từ đầu đến cuối chưa nói một câu. Đến lúc bà Mơn kể xong, mụ mới lên tiếng, giọng Hà Nội nhẹ như mời khách.
– Cụ rót cho chúng tôi một chén trà được không ạ? Bằng chính cái ấm của cụ thượng thư. Để tôi về Hà Nội còn khoe với người trong ngõ là đã uống trà của nhà quan Huế.
Anh Khánh hơi khựng lại một nhịp. Rồi anh cười, bảo dạ được, cái ấm này lâu không dùng, nhưng tráng nước sôi là pha được. Con bé Cẩm mang ra phích nước sôi và hộp trà mạn mụ Duyến mang từ Hà Nội vô. Anh Khánh tráng ấm, bỏ trà, rót nước sôi, đậy nắp, rồi đẩy cái ấm về phía bà Mơn.
Bà Mơn cầm quai ấm. Cả năm bàn tay nắm lấy cái quai, như người ta nắm cái quai làn đi chợ. Bà nghiêng ấm về phía chén thứ nhất.
Cái nắp trượt ra, rơi xuống chén, kêu một tiếng canh.
Bà Mơn giật mình, buông ấm. Nước trà sánh ra khăn nhung. Anh Khánh vội đỡ lấy, cười xoà, bảo bà cụ tay run rồi, tuổi già mà. Bà Mơn cũng cười, xin lỗi, bảo lâu lắm rồi không rót.
Mụ Duyến cầm chén trà, nhìn vào lòng chén, nơi cái nắp ấm vẫn nằm nghiêng. Rồi mụ đặt chén xuống bàn mà không uống.
Tôi nhìn mụ. Ba mươi sáu năm không gặp, nhưng cái nét mặt ấy tôi nhớ. Hồi ở ngõ Thổ Quan, có lần một gã đến chõng mua bao thuốc lá, đưa tờ tiền giả. Mụ cầm tờ tiền lên, soi một cái, rồi đặt xuống bàn, cũng với cái nét mặt ấy, không giận, không cười, chỉ im.
Trước khi ra về, anh Khánh dừng lại trước bàn thờ ông nhà tôi, chắp tay vái ba vái, rất thành kính.
– Thầy Lâm dạy văn ở trường Quốc Học năm tám mươi tám phải không bác? – Anh hỏi tôi. – Hồi đó con học lớp bên, có nghe thầy giảng Chinh phụ ngâm một buổi, nhớ tới chừ.
Tôi gật đầu, cảm động. Thằng Vĩnh vỗ vai anh như anh em. Chỉ có mụ Duyến đứng ở góc hiên, vê miếng trầu, mắt nhìn đôi giày da bóng lộn của anh.
Anh Khánh đưa bà Mơn về lúc năm giờ. Trước khi đi, anh nhắc thằng Vĩnh, thứ Bảy giao nốt hai trăm năm mươi triệu, anh mang ấm tới, vì có người Đài Loan cũng đang hỏi.
Tối ấy, mụ Duyến ngồi ở hiên với tôi đến khuya.
– Mụ Hường. – Mụ gọi tôi như hồi ba mươi tuổi. – Cái bà Mơn ấy, hai mươi năm sáng nào cũng rót trà cho ông nội.
– Ừ, bà nói rứa.
– Người rót trà hai mươi năm, già đến đâu thì ngón trỏ vẫn tự đặt lên nắp. Như người đi xe đạp hai mươi năm, già đến đâu cũng không quên đạp. Mụ nhớ ông Lâm nhà mụ không? Hôm cuối cùng mụ gửi ảnh ra cho tôi, ông nằm trên giường, tay cầm ấm, ngón trỏ vẫn đè lên nắp.
Tôi không nói được gì. Cái ảnh ấy, tôi để trên bàn thờ ông.
– Bà ấy cầm ấm như cầm cái làn. – Mụ nói tiếp. – Cả đời bà ấy chưa rót trà bao giờ. Mà nếu bà ấy chưa rót trà bao giờ, thì chuyện ông nội với cái ấm là chuyện ai kể cho bà ấy?
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám