Chương 1: Tháng Chín, 2026. Mộ số 47
Thu Nga đặt cái kèn harmonica lên mộ trước khi thắp nhang. Cái kèn đã gỉ, nắp kim loại xỉn màu, mấy lỗ thổi bám đầy cát mịn. Nó nằm trong kho vật chứng của công an thành phố Đông Hà mười tám năm, trong một túi nylon dán nhãn: đồ vật của người chết vô danh, nam, khoảng ba mươi lăm tới bốn mươi tuổi, chết đuối tại sông Hiếu, ngày 12 tháng 6 năm 2008.
Bia mộ cũ chỉ có một con số sơn đỏ, bốn mươi bảy, và một dòng chữ: mộ vô danh. Bia mộ mới đã khắc xong, nằm dựa vào gốc sứ, chờ thầy cúng chọn giờ dựng. Đoàn Văn Sửu, sinh năm 1972, quê Quảng Bình cũ, mất ngày 12 tháng 6 năm 2008.
Đứng cạnh Thu Nga là một chàng trai hai mươi sáu tuổi, cao gầy, đeo kính, tên Trương Quốc Bảo. Anh cầm cái chổi tre, quét lá sứ rụng quanh mộ theo thói quen của một người đã làm việc đó mỗi rằm, mỗi mùng một, từ năm tám tuổi.
– Em gọi là mộ chú, mười tám năm. – Bảo nói, không nhìn Thu Nga. – Bây giờ không biết gọi là gì.
– Thì cứ gọi là chú. – Thu Nga nói.
Mẹ Thu Nga không đến. Bà ở nhà, ở một xã vùng cát ven biển phía bắc, nơi bà đã sống một mình từ năm 2008, không tái giá, cũng không thờ chồng. Mười tám năm, trên bàn thờ nhà bà không có ảnh ông Sửu, vì người ta không thờ một người bỏ đi theo gái sang Lào. Hôm nay bà ở nhà, lau tấm ảnh duy nhất còn giữ, ảnh ông đứng trong xưởng mộc, áo ba lỗ bám đầy mùn cưa.
Thu Nga lớn lên trong những câu hỏi không ai trả lời. Hồi học lớp ba, cô viết bài văn tả người cha, cô giáo đọc to trước lớp, khen hay. Bài văn tả một người thợ mộc thổi kèn trên bậc cửa. Một đứa bạn cùng xóm đứng dậy nói: ba bạn Hà bỏ đi Lào với gái rồi, tả chi nữa. Cả lớp cười. Cô về nhà, xé bài văn, nhét xuống gầm giường. Mẹ cô nhặt lên, dán lại bằng hồ cơm, kẹp vào cuốn sổ hộ khẩu, không nói gì.
Năm mười lăm tuổi, cô hỏi mẹ có hận ba không. Mẹ cô đang phơi cá trên giàn tre ngoài bãi cát, lật từng con cá nục cho đều nắng. Mẹ nói: hận thì mệt, mẹ không có sức. Rồi mẹ nói thêm: ba con không phải người bỏ đi mà không nói. Ba con đi đâu cũng nói, đi đâu cũng về. Mẹ nói câu đó như nói về một người khác, một người mà người ta đã kể lại cho mẹ không giống.
Bây giờ Thu Nga mới hiểu câu ấy. Mười tám năm, mẹ cô chưa bao giờ tin hẳn ông Cang. Mẹ chỉ không còn chỗ nào khác để tin.
Bác sĩ Đàm Thanh Vy đứng lùi phía sau, cùng một điều tra viên của Công an tỉnh Quảng Trị. Chị không có việc gì phải làm ở đây nữa. Kết luận giám định ADN đã ký từ tháng trước: hài cốt tại mộ vô danh số 47 có quan hệ huyết thống cha con với Đoàn Thị Thu Nga. Nhưng Thu Nga đã nhắn mời chị, và chị đã bay vào.
Ở góc nghĩa trang, gần cổng, có một người đàn ông sáu mươi tuổi, đội mũ cối, ngồi trên một chiếc xe máy cũ, không vào. Thu Nga nhìn thấy ông. Cô biết ông là ai. Mười tám năm trước, chính ông đã ngồi trong nhà cô, uống chén nước chè xanh mẹ cô rót, và kể rằng ông đã chở ba cô lên cửa khẩu Lao Bảo sáng ngày 14 tháng 6.
Cô không bước về phía ông. Cô thắp nhang, rồi cúi xuống, lau lớp cát trên cái kèn bằng vạt áo.
Lúc mọi người đã về gần hết, Vy bước lại gần, đứng cạnh cô.
– Chị có cần nói gì với ông ấy không ạ? – Thu Nga hỏi, mắt vẫn nhìn cái kèn.
– Không. Việc của chị xong rồi. – Vy nói. – Chị chỉ muốn nói với em một chuyện chị thấy khi làm giám định, mà không ghi vào kết luận được, vì nó không phải là kết luận. Bàn tay trái của ba em có vết liền xương cũ ở ngón cái. Người thợ mộc cầm đục bằng tay trái, giữ gỗ bằng tay phải, thì vết đục trượt sẽ rơi đúng chỗ ấy. Ba em thuận tay trái. Lúc nhảy xuống sông, người thuận tay trái sẽ vươn tay trái ra trước. Bảo kể với chị, lúc ở dưới nước, cậu ấy bị nắm vào cổ áo bằng một bàn tay có cái gì gồ lên ở ngón cái.
Thu Nga gật đầu. Cô không hỏi gì thêm.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám