Chương 3: Mùi rượu
Quan huyện Ứng không vào lò. Ông ta đứng ở cửa, khăn tay bịt mũi vì mùi chàm, nghe ông Ninh trình từng điều. Nghe xong, ông ta quay sang Lương Đắc:
– Đêm qua ngươi ở đâu?
Đắc chắp tay, nói rất nhanh, như đã nghĩ sẵn:
– Bẩm, tiểu nhân đi chợ phiên bên huyện Lạc mua vôi, ngủ lại quán trọ đầu chợ. Gà gáy nghe người làng sang báo tin mới chạy về. Có chủ quán làm chứng.
– Từ đây sang chợ huyện Lạc mất hai canh giờ đi bộ. – Ông Ninh nói, không nhìn Đắc. – Vậy ông rời làng lúc nào?
– Giờ Dậu.
– Giờ Dậu ông chưa đi. – Ông Ninh nói. – Thằng thợ phụ nói giờ Dậu ông còn ở lò, cãi nhau với ông Toại về chuyện bột chàm.
Thằng thợ phụ ở góc lò cúi gằm mặt.
Lý trưởng lúc ấy mới đằng hắng, nói nhỏ với quan huyện rằng sáng nay ông đã sai người sang hỏi nhà cưới bên kia sông. Nhà ấy bảo có mời ông Toại, nhưng cả buổi tối không thấy ông sang, mâm cỗ phần ông vẫn để nguyên. Chuyện ông Toại đi ăn cưới về khuya là do ai nói ra đầu tiên, lý trưởng ngập ngừng một lúc, rồi đưa mắt về phía Lương Đắc. Chính Đắc, lúc gà gáy chạy về tới bờ ao, đã khóc mà kể cho cả làng nghe như thế.
Còn chủ quán trọ huyện Lạc, nếu có gọi tới, cũng chỉ làm chứng được rằng Đắc tới quán lúc gần nửa đêm, ướt sũng từ đầu gối trở xuống, đòi một ấm rượu nóng.
Chị Lụa từ nãy đứng im, giờ mới nói, giọng khàn:
– Anh Toại nói với tôi từ tháng trước. Mấy chuyến hàng gần đây có bột chàm pha than. Nhuộm lên vải được ba lần giặt là phai. Mối ở phủ trả lại hai chuyến. Anh ấy bảo sẽ hỏi cho ra.
Đắc lắc đầu, nói to:
– Bẩm quan, tôi với anh Toại làm ăn sáu năm. Tôi cần gì phải hại anh ấy. Ông ấy say rượu ngã ao, cả làng biết. Quan ngửi áo ông ấy mà xem.
Ông Ninh quay lại, lần đầu nhìn thẳng vào Đắc.
– Phải, áo ông Toại nồng mùi rượu. Tiểu nhân ngửi từ sáng. – Ông nói chậm. – Mùi rượu nồng ở vạt áo, ở ngực áo, ở cả lưng áo. Nhưng trong miệng ông ấy không có mùi rượu. Tiểu nhân đã ngửi. Người say tới mức ngã ao thì hơi thở phải nồng rượu, nước trong miệng phải có mùi rượu. Không có.
Ông giơ cái áo của người chết, đã được lính mang theo, chỉ vào mấy vệt ố.
– Rượu này không phải uống vào. Rượu này là đổ lên.
Quan huyện Ứng hạ khăn tay xuống. Ông ta không còn vẻ sốt ruột của buổi sáng.
– Ngỗ tác nói tiếp đi.
Ông Ninh kể lại, chậm và rõ, như đọc một bản nghiệm thi:
– Ông Toại không đi ăn cưới về khuya. Tối qua ông ấy ở lò, cãi nhau với người góp vốn vì bột chàm pha than. Cãi nhau bên bể thứ năm, bể vừa pha. Có giằng co. Ông Toại ngã vào bể, bể cao ngang ngực, nước chàm trơn, thành bể trơn. Tay ông ấy quờ quạng, đứt chuỗi trầm, hạt rơi xuống đáy. Nước tràn ra, bể hụt một gang tay. Ông ấy chết đuối trong nước chàm, nên trong miệng có nước chàm mới pha, màu lục nhạt, không bùn, không bèo. Rồi có người vác ông ấy qua vườn chuối, ra ao sen, thả xuống, đổ rượu lên áo, để cả làng sáng ra nói một câu: say rượu ngã ao.
Ông dừng một lúc, rồi nói thêm:
– Người làm việc ấy rất cẩn thận. Nhưng người ấy quên rằng mười móng tay của ông Toại chưa từng chạm vào bùn ao. Và người ấy không biết rằng ao làng mình tháng sáu kín bèo.
Lương Đắc đứng im. Hai ống tay áo của hắn buông thõng xuống, lộ ra hai bàn tay xanh chàm. Trên mu bàn tay phải có ba vệt cào dài, đã đóng vảy, ba vệt song song như ba vệt móng tay.
Không ai nói gì. Quan huyện Ứng nhìn ba vệt cào, rồi nhìn ông Ninh.
– Nghiệm thi điều năm. – Ông Ninh nói với Vĩnh. – Không phải ghi ở người chết. Ghi ở người sống.
Đắc quỳ xuống. Hắn không chối nữa. Hắn chỉ nói, giọng lạc đi, rằng hắn không định giết. Hắn pha than vào bột vì nợ một món ở sòng bạc bên kia sông, định trả xong thì thôi. Hắn chỉ định đẩy cho Toại im. Toại ngã vào bể, quẫy, rồi im. Hắn đứng nhìn, không kéo lên. Hắn nói hắn không biết tại sao mình không kéo lên.
Chiều hôm ấy, khi quan huyện đã về, ông Ninh và Vĩnh ngồi trên bờ ao sen ăn nắm xôi mang theo từ sáng. Người làng đã khiêng thi thể Toại về nhà. Mặt ao lặng, bèo tấm đã khép lại chỗ người ta vớt xác lên, không còn để lại dấu gì.
Vĩnh mở cuốn sổ nghiệm thi, đọc lại năm điều. Cậu hỏi:
– Thầy biết từ lúc nào ạ?
Ông Ninh nhai chậm miếng xôi.
– Từ lúc nhìn cái ao. – Ông nói. – Ao kín bèo mà chỗ xác nổi lại không có vệt trống nào to. Người ngã xuống, vùng vẫy, thì bèo phải dạt ra một khoảng rộng như cái nong. Đằng này chỉ có một vệt hẹp, vừa một thân người, như ai đặt xuống.
Ông đưa cho Vĩnh dải lụa trắng thứ ba, còn mới, chưa dùng.
– Sáng mai trước khi đi, nhúng thử vào cả mười một bể một lượt. Ghi lại từng màu. Tháng sau nhúng lại. Ngỗ tác mà không phân biệt được màu chàm của làng nhuộm, thì đừng nhận việc ở huyện có làng nhuộm.
Vĩnh cầm dải lụa, gấp làm tư, cất vào giữa hai trang sổ. Ở trang cuối, dưới dòng điều năm, cậu viết thêm một dòng nhỏ không thuộc về bản nghiệm thi: chuỗi trầm mười tám hạt, vớt được mười bốn, còn bốn hạt dưới đáy bể. Cậu định sáng mai sẽ mò tiếp cho đủ, để trả lại chị Lụa.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu