Chương 1: Vạch thứ ba đến vạch thứ sáu
Vạch thứ ba.
Tôi đứng dưới chân cột đá đầu đình, nhìn nước liếm tới vạch khắc thứ ba thì biết năm nay lũ về sớm hơn mọi năm gần nửa tháng. Cột đá ấy ông nội tôi dựng, cao hơn đầu người, khắc mười hai vạch, mỗi vạch cách nhau một gang tay. Ông bảo, nước tới vạch năm thì gặt non, tới vạch bảy thì dắt trâu lên gò, tới vạch chín thì đưa người già với trẻ con lên chùa Đá. Tới vạch mười hai thì ông chưa thấy bao giờ, nên ông không dặn.
Tôi tên Khúc Thị Na, hai mươi bốn tuổi, người làng Bãi Sậy, theo nghề trận sư. Nói theo nghề thì oai, chứ thực ra tôi chỉ ở cảnh Bố Nhãn. Trận đạo chia bốn cảnh. Họa Tuyến là vẽ được đường linh lên đất, lên đá. Bố Nhãn là đặt được mắt trận, tức những điểm giữ cho đường linh không đứt. Liên Trận là nối nhiều trận nhỏ thành một trận lớn. Sinh Trận, cảnh cao nhất, là trận tự thở, tự sửa, không cần người canh. Cả vùng hạ lưu Xích Thủy chỉ có một người tới Sinh Trận, là Diêm Khả Định của Hoành Giang Môn. Tôi học trận ba năm ở một quán sửa trận bàn ngoài chợ huyện, thầy tôi mất, tôi về làng, làm mấy việc vặt như vẽ trận đuổi chuột cho kho thóc, trận giữ ấm cho chuồng vịt.
Hôm nước lên vạch ba, Diêm Khả Định về làng.
Ông ta không bay mà đi thuyền, thuyền bốn mái chèo, đằng mũi cắm cờ xanh thêu sóng. Ông chừng năm mươi tuổi, gầy, râu tỉa gọn, mặc áo lụa màu nước sông, đi đôi giày vải trắng mà bước lên bờ bùn không dính. Người mời ông về là cụ Tào Lệnh, phú hộ lớn nhất Bãi Sậy, chủ ba dãy kho thóc dọc bờ sông. Năm ngoái lũ tràn vào kho, cụ mất hai nghìn thùng thóc. Năm nay cụ bỏ ra năm trăm lạng bạc mời trận sư giỏi nhất về.
Tôi được thuê vác cọc, bốn đồng một ngày.
Vạch thứ tư.
Diêm Khả Định đi dọc đê một buổi sáng, không nói gì, chỉ chống cây gậy trúc xuống đất, nghe. Chiều hôm ấy ông vẽ trận. Tôi chưa từng thấy ai vẽ trận đẹp như thế. Ông cầm một cái bút lông to bằng cổ tay, chấm vào bát mực trộn chu sa với bột đá, vẽ thẳng lên mặt đê, mỗi nét dài cả chục trượng mà không nhấc bút. Đường linh sáng lên màu xanh nhạt, chạy dọc chân đê như một con rắn nước.
– Thiết Bích, – ông nói với cụ Tào khi vẽ xong. – Tường trận sắt. Nước lên bao nhiêu, tường lên bấy nhiêu. Kho của cụ khô như mùa hạn.
Cụ Tào cười, cho người mang rượu ra.
Tôi vác cọc đi theo sau ông, cắm cọc đồng vào chỗ ông chỉ. Mỗi cọc là một mắt trận. Hai mươi bảy cọc, cắm thành một vòng cung ôm lấy phía bờ làng Bãi Sậy. Đến cọc thứ hai mươi, tôi thấy chân mình lún.
Tôi cúi xuống, bốc một nắm đất. Không phải đất thịt. Là cát, lẫn vỏ hến. Ở đây ngày xưa là một bãi cát nổi, ông nội tôi kể, sau mới bồi phù sa lên thành ruộng. Lớp phù sa chỉ dày nửa sải tay.
Tôi nói với Diêm Khả Định. Ông nhìn nắm cát trong tay tôi, rồi nhìn tôi, như nhìn một con chuột đi lạc vào điện.
– Cô ở cảnh nào?
– Dạ, Bố Nhãn.
– Thế thì cô biết mắt trận giữ đường linh, chứ không phải đất giữ mắt trận. Cắm tiếp đi.
Vạch thứ năm.
Ruộng nhà tôi nằm ngoài vòng cung Thiết Bích, phía hạ lưu, sát đầm Cò. Mẹ tôi gặt non ba sào, lúa còn xanh đuôi, hạt sữa. Mẹ vừa gặt vừa khóc, không phải vì tiếc lúa mà vì làng Bến Cói.
Làng Bến Cói ở dưới Bãi Sậy chừng năm dặm, nhà cửa thấp, ruộng trũng, dân nghèo hơn làng tôi nhiều. Năm nào lũ to, nước tràn qua Bãi Sậy rồi loang xuống đó, chia đều, mỗi làng ngập một ít. Năm nay Thiết Bích giữ cho Bãi Sậy không ngập, thì nước không tràn ngang được nữa, phải dồn hết xuống dưới.
– Bến Cói chịu hết, – mẹ tôi nói. – Cụ Tào biết. Ông trận sư biết. Có mỗi người Bến Cói là chưa biết.
Tối ấy tôi lấy cái trận bàn của thầy ra. Trận bàn là một tấm gỗ lim tròn, mặt khắc lưới ô vuông, có thể bày những viên đá nhỏ lên để mô phỏng một trận lớn. Tôi bày Thiết Bích lên đó, hai mươi bảy viên đá cho hai mươi bảy cọc. Rồi tôi rắc một nhúm cát dưới bảy viên đá ở phía bờ bãi cát cũ, đổ nước vào khay.
Tường trận trên trận bàn giữ được. Giữ được rất lâu. Tôi đổ thêm nước, thêm nữa, tới khi nước trong khay ngang vạch thứ chín tôi kẻ bằng than lên thành khay.
Bảy viên đá đặt trên cát nghiêng đi, cùng lúc. Đường linh đứt ở bảy chỗ. Cả bức tường đổ, không phải từ từ như đê vỡ, mà sập một lượt, như người ta kéo khăn trải bàn. Nước dồn từ đầu này sang đầu kia của khay, mạnh hơn lúc chưa có tường.
Tôi ngồi nhìn cái khay nước đến gà gáy.
Vạch thứ sáu.
Tôi lên thuyền Diêm Khả Định, mang theo trận bàn. Ông đang uống trà, nghe tôi nói hết, nhìn tôi làm lại một lượt trên khay, rồi im lặng đặt chén xuống.
– Cô có biết vì sao cụ Tào trả năm trăm lạng không? – ông hỏi.
– Dạ, để giữ kho.
– Để giữ kho tới vạch tám, – ông nói. – Lũ năm nào cũng lên tới vạch tám rồi rút. Ba mươi năm nay chưa năm nào tới vạch chín. Ta biết đất dưới đó là cát. Thiết Bích không giữ được tới vạch chín, nhưng nó không cần. Đến vạch tám nước rút, kho khô, cụ Tào trả tiền, Hoành Giang Môn có năm trăm lạng mua thuốc cho đệ tử. Năm nào cũng vậy.
– Còn Bến Cói?
– Bến Cói năm nào chẳng ngập.
– Năm nay nước lên sớm nửa tháng, – tôi nói. – Thầy tôi dạy, lũ về sớm thì lũ to.
Diêm Khả Định không trả lời. Ông nhìn ra mặt sông. Nước đã đỏ quạch, cuốn theo những bè lục bình, cành tre gãy, một cái nón lá lật ngửa.
— Hết chương 1 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe