Chương 3: Hai người
Sáng hôm sau, Huệ chạy xe ra bến xe Sa Đéc chở Khiêm về vườn, như hai đứa chưa từng đi đâu. Cả xóm thấy. Tới trưa thì cô Tư từ Lai Vung gọi điện qua.
– Mày điên rồi hả Huệ? Ba mày mới nằm xuống ba ngày…
– Cô Tư, – Huệ cắt ngang. – Chiều nay cô qua nhà con được không. Con có cái này cho cô coi.
Khiêm ngồi ở hiên, nghe hết. Khi Huệ cúp máy, anh nói:
– Em đừng. Để ba em yên.
– Ba em yên rồi, – cô nói. – Ba em nằm ngoài kia, không ai chửi được ba em nữa. Người còn sống đây là anh.
– Anh quen rồi.
– Em không quen.
Hai người cãi nhau gần một tiếng, giữa đống chậu cúc cần phải tưới. Huệ vừa cãi vừa kéo vòi nước, Khiêm vừa cãi vừa theo sau dời chậu cho cô tưới. Cuối cùng anh nói một câu làm cô đứng lại.
– Nếu em nói ra, người ta sẽ không nhớ chú Bảy là người dạy cả cái xóm này bấm ngọn cúc cho kịp Tết. Người ta sẽ nhớ chú là thằng cờ bạc để thằng nhỏ gánh tội thay. Em muốn vậy hả?
Huệ không trả lời được. Cô buông vòi nước xuống đất, để nó chảy lênh láng vô gốc mấy chậu vạn thọ.
Chiều đó cô Tư tới. Huệ không đưa cuốn sổ ra giữa bàn. Cô dắt cô Tư vô phòng ba, đóng cửa lại, đưa cho cô coi một mình. Bà già năm mươi tám tuổi đọc từng trang, đeo kiếng rồi lại tháo kiếng, cuối cùng ngồi im trên mép giường của anh mình. Một lúc lâu, cô Tư nói, không ngẩng lên:
– Hồi đó tao có nghi. Tao thấy ổng đi Châu Thành hoài. Tao không dám hỏi.
– Cô không dám hỏi, – Huệ nói, – thì người khác phải chịu.
Họ thống nhất được một chuyện. Huệ sẽ không đứng giữa xóm mà nói. Nhưng cô sẽ đi từng nhà trong mười một nhà góp hụi năm xưa, đem theo cuốn sổ, để người ta tự coi. Coi xong muốn nói gì thì nói. Cô Tư không đồng ý, cũng không cản. Bà chỉ nói, từ nay đám giỗ ba, bà làm bên Lai Vung, Huệ muốn qua thì qua.
Huệ hiểu đó là cái giá. Cô gật đầu.
Mười một nhà, cô đi hết trong một tuần trước Tết. Có nhà nghe xong ngồi im. Có nhà nói, chuyện qua rồi, con nhắc làm chi. Ông Sáu Dừa, người góp hai phần, đọc xong thì đứng dậy, đi ra vườn sau, một lúc lâu mới quay lại, tay cầm một bó cúc mâm xôi cắt sẵn.
– Đem qua cho thằng Khiêm, – ông nói. – Nói tao xin lỗi. Mà nói thêm, tao vẫn giận nó. Đàn ông gì mà ngu dữ vậy.
Bà Năm Lụa thì không nói gì. Hai hôm sau, bà sai thằng cháu chở qua một nồi thịt kho trứng, không kèm lời nhắn. Khiêm ăn hết.
Hai mươi chín Tết, chợ hoa ven sông Sa Đéc đông như hội. Ghe chở cúc, vạn thọ, hoa giấy, hoa mai ghép đậu kín một khúc kênh. Khiêm chống ghe, Huệ ngồi mũi bán. Mười một năm anh không chống ghe, cây sào trượt hai lần, Huệ ngồi phía trước cười tới chảy nước mắt, rồi khóc thật, rồi lại cười, khách mua hoa đứng trên bờ không hiểu chuyện gì.
Bán xong chuyến cuối thì trời đã tối. Hai người ngồi trên ghe trống, ăn bánh tét mua ở chợ. Huệ móc túi ra một xấp tiền, đếm, rồi đưa cho Khiêm một nửa.
– Gì đây?
– Tiền công chống ghe, – cô nói. – Hai trăm năm chục ngàn. Bảng giá ba em đặt từ hồi xưa. Anh coi lại sổ thì biết.
Khiêm cầm tiền, nhìn cô một lúc.
– Còn mười một năm thì tính sao?
Huệ không trả lời ngay. Cô gói phần bánh tét còn lại vô lá chuối, cột dây, để gọn trong khoang ghe.
– Từ từ trả, – cô nói. – Mỗi mùa hoa một ít. Em không có tiền trả một lần đâu.
Mùng hai Tết, Khiêm chở Huệ ra nghĩa địa sau chùa thắp nhang cho mẹ anh. Mộ bà nằm đó sáu năm, cỏ mọc kín chân bia. Hai người ngồi nhổ cỏ tới trưa. Huệ không nói gì nhiều, chỉ nói một câu khi đứng dậy phủi tay:
– Con xin lỗi bác. Con về trễ.
Ra giêng, cô Tư vẫn không qua. Nhưng tới rằm tháng Giêng, ngày mà mười một năm trước đã định làm đám cưới, có một chậu cúc vàng gửi theo xe đò từ Lai Vung về, ghi tên người nhận là Khiêm. Không có thư. Chậu cúc được bấm ngọn đúng kiểu ông Bảy dạy, chín nhánh đều như nhau.
— Hết —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình