Chương 1: Huệ
Rạp đám ma dựng giữa vườn cúc mâm xôi, nên khách tới viếng phải đi lách qua mấy hàng chậu, ống quần ai cũng dính phấn vàng. Ba Huệ mất ngày hai mươi ba tháng Chạp, đúng mùa cúc nở rộ nhất, giống như ông cố ý chọn cái lúc cả xóm không ai rảnh để buồn.
Tới chiều ngày thứ hai, cô Tư đang rót trà cho khách thì khựng tay. Huệ nhìn theo hướng cô nhìn.
Ở góc cuối rạp, chỗ bàn trống để mấy thùng nước suối, có một người đàn ông mặc áo sơ mi trắng đứng đó không biết từ lúc nào. Ốm hơn. Đen hơn. Tóc hai bên mai đã lấm tấm. Nhưng cái cách anh đứng, hai tay buông thẳng, vai hơi lệch về bên phải vì hồi nhỏ gánh nước nhiều, thì Huệ nhận ra trước cả khi nhận ra mặt.
Trần Bá Khiêm. Mười một năm.
Anh bước lên, xin nhang của thằng em họ Huệ đang đứng bàn. Thằng nhỏ mới mười bảy, không biết anh là ai, đưa luôn ba cây. Khiêm thắp, cắm vào lư, rồi quỳ xuống. Người ta lạy ba lạy rồi đứng dậy. Anh quỳ lâu tới nỗi mấy bà ngồi bàn trong bắt đầu xì xào.
– Nó đó hả? – bà Năm Lụa hỏi, không thèm hạ giọng. – Thằng Khiêm đó hả? Trời đất, còn mặt mũi về đây.
Cô Tư đặt bình trà xuống, đi thẳng tới. Huệ đứng dậy theo, không phải để can, mà vì chân cô tự đi.
Khiêm đứng lên, rút trong túi áo ra một phong bì, hai tay đặt lên mâm phúng điếu. Phong bì dày cộm. Cô Tư cầm lên, không mở, ném xuống đất ngay trước mũi giày anh.
– Tiền này là tiền của ai? – cô Tư nói. – Của bà Năm hay của ông Sáu Dừa? Mày cầm về mà trả người ta.
Khiêm cúi xuống nhặt phong bì, phủi cát, nhưng không cất vào túi. Anh quay sang Huệ. Cô thấy anh mở miệng định nói gì, rồi thôi.
– Anh xin lỗi em, – anh chỉ nói được vậy. – Anh về trễ.
Rồi anh đi ra, lách qua mấy hàng cúc, ống quần cũng dính phấn vàng như mọi người.
Huệ đứng nhìn tới khi chiếc xe máy biển số Sài Gòn khuất sau hàng dừa. Cô không khóc. Mười một năm trước cô khóc đủ rồi.
Năm đó cô hai mươi lăm. Đám cưới định sau rằm tháng Giêng, hai nhà đã coi ngày, ba Huệ đã đặt rạp. Ba làm chủ một dây hụi mười một phần, toàn người trong xóm hoa, mỗi tháng mỗi phần góp ba triệu rưỡi. Khiêm là người ba tin nhất, mồ côi cha, theo ba học trồng hoa từ năm mười lăm, lớn lên thì ba giao luôn cuốn sổ hụi cho anh ghi, giao luôn việc chạy xe đi thu tiền. Hai mươi tám Tết năm ấy, sáng ra người ta không thấy Khiêm đâu nữa. Ba ngồi giữa nhà, mặt xám ngắt, nói với cả xóm: tiền hụi mất hết rồi, bốn trăm hai chục triệu, thằng Khiêm cầm đi.
Ba bán nửa vườn để trả. Không ai kiện ai, vì cuối cùng người ta cũng được trả đủ. Nhưng từ đó tới giờ, ở Tân Quy Đông, nhắc tới tên Khiêm là người ta nhổ nước miếng.
Có một lá thư. Ba tháng sau Tết, bưu điện xã đưa tới, ngoài bì đề tên cô, nét chữ Khiêm. Huệ đem ra sau hè, đốt bằng cái hộp quẹt ga của ba, không mở. Cô nhớ mình đứng nhìn tới khi tờ giấy cong lại, đen đi, rồi gió thổi tan vào mấy luống vạn thọ.
Đám ma xong, cô Tư về Lai Vung. Ngày thứ ba, Huệ dọn phòng ba.
Ba sống gọn như người sắp đi xa. Hai bộ đồ bà ba, một cái radio, một hũ gạo bằng sành để dưới gầm giường. Trong nhà có thùng gạo lớn ngoài bếp, Huệ không hiểu sao ba lại để riêng một hũ. Cô kéo ra định đổ gạo vô thùng. Cái hũ nặng hơn lượng gạo đáng có.
Dưới lớp gạo là một gói ni lông quấn băng keo mấy vòng.
Trong gói có hai thứ. Thứ nhất là một cuốn tập học trò bìa xanh, giấy đã ngả vàng, ghi chữ "Sổ hụi" bằng bút bi. Huệ nhận ra nét chữ. Không phải chữ Khiêm. Là chữ ba.
Thứ hai là một xấp giấy cột thun, toàn là phiếu chuyển tiền của bưu điện, rồi về sau là giấy in biên nhận chuyển khoản ngân hàng. Người gửi: Trần Bá Khiêm. Người nhận: Ngô Văn Bảy. Mỗi tháng một tờ, có tháng hai tờ. Tờ đầu tiên đề tháng Tư năm 2014. Tờ cuối cùng đề tháng Mười một năm nay, một tháng trước ngày ba mất.
Huệ ngồi bệt xuống nền gạch, lấy cái máy tính trên điện thoại ra cộng. Cô cộng tới tờ thứ sáu mươi thì tay run quá, bấm sai, phải cộng lại từ đầu.
— Hết chương 1 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình