Chương 3: Ba giờ sáng hai mươi bảy Tết
Rẫy của nhà chú trưởng thôn nằm cách bản chừng năm trăm mét, trên một khoảnh đất bằng, quanh rẫy là con suối cạn và một dải đất đã cuốc trơ làm ranh lửa. Cây phát từ tháng trước, chất thành đống, khô cong. Theo lệ trong bản, ra giêng mới đốt. Ông trưởng thôn tên Đinh Văn Pố, ngoài sáu mươi, nghe Rô kể xong thì ngồi im hút hết nửa điếu thuốc lá cuốn.
– Đốt sớm thì phải báo kiểm lâm – ông nói, tiếng dưới xuôi lơ lớ. – Không báo thì bị phạt.
– Con sẽ nộp phạt – tôi nói. – Bao nhiêu con cũng nộp. Mà con xin chú đốt đúng cái đống ở giữa rẫy thôi, có người canh đủ bốn phía. Không có gió chú ơi. Chú coi khói kìa.
Ông Pố ngửa mặt nhìn trời. Khói từ bếp nhà ông vẫn đứng thẳng. Ông nhìn lâu, rồi nhổ một bãi nước bọt xuống đất.
– Tháng mười, thằng cháu tui chạy xe bay chở cà phê cho người ta, cũng xuống cái bãi này. Mất hết hàng. Nó đền cho chủ hàng tới giờ chưa xong.
Ông đứng dậy, cầm cái rựa.
Chúng tôi chờ tới ba giờ sáng. Tôi chọn giờ đó vì hai lẽ. Một là lúc người ta ngủ say nhất, kể cả hai người đàn ông dưới thung lũng. Hai là càng gần sáng, cái xe không đèn của bọn họ càng gần tới, tôi muốn kiểm lâm tới vừa lúc mọi thứ còn nguyên ở bãi, không phải sau khi đã dọn sạch.
Trong lúc chờ, tôi xuống thung lũng một lần. Anh Thạch đang ngồi trong lều nghe radio, ngẩng lên khi thấy tôi.
– Tưởng cô ngủ trên bản luôn rồi.
– Bà cụ trên đó cho ăn mì nướng – tôi nói, giơ cái bọc lá chuối. – Tôi đem xuống cho hai anh mấy củ.
Anh ta nhận, cảm ơn. Tôi liếc qua xe mình. Cái chốt sàn tải đã mở hết. Mười hai gốc mai vẫn đứng đó, nhưng dây chằng đã nới lỏng, sẵn sàng để khiêng.
– Hàng của tôi sao vậy anh?
– À, Tiến nó kiểm tra dây chằng – anh Thạch nói, không đổi giọng. – Dây cũ mục rồi, gió mạnh dễ đứt. Sáng mai nó thay dây mới cho cô.
Tôi gật đầu, ngồi xuống ghế nhựa, nhìn anh ta bóc vỏ củ mì. Tôi tự nhủ không nói gì thêm, nhưng rồi vẫn hỏi.
– Anh làm cứu hộ lâu chưa?
– Mấy năm nay. Hồi trước tôi cũng chạy xe bay tải như cô.
– Rồi sao anh bỏ?
Anh Thạch ngừng tay. Cái đèn hiệu ngoài kia vẫn nhấp nháy xanh, hắt lên mặt anh ta từng đợt.
– Năm năm trước tôi chở một xe vải thiều từ vùng Đồi Vải vô thành phố Cảng Nam. Đèn hiệu ở đèo Cát Trắng báo gió êm, máy lái cho bay. Ra giữa đèo thì gặp gió xoáy. Rớt. Tôi gãy hai cái xương sườn, mất xe, mất bằng lái, chủ hàng kiện. Bên quản lý đèn hiệu nói dữ liệu của họ đúng, lỗi do tôi không tự quan sát. Cô thấy không, có lúc người ta tin máy, có lúc người ta bắt mình đừng tin máy. Tùy lúc nào có lợi cho họ.
Anh ta nói xong thì cười, như kể chuyện người khác. Tôi biết anh ta không nói dối đoạn đó. Có những câu chuyện người ta kể đi kể lại nhiều lần quá, tới mức nó mòn nhẵn như hòn sỏi trong túi.
– Vậy mà giờ anh làm đèn hiệu – tôi nói.
Anh Thạch nhìn tôi. Lần đầu tiên trong cả buổi tối, ánh mắt anh ta không cười.
– Cô ngủ đi. Sáng mai còn đường xa.
Tôi về lại bản lúc hai giờ. Ông Pố đã gọi được thêm bốn người đàn ông, mỗi người cầm một cái bình xịt nước đeo vai và một bó cành tươi để dập lửa. Rô chạy đi chạy lại, mắt sáng rỡ như đi hội. Bà Hơn ngồi bên bếp, nhìn tôi, nói một câu tiếng của bản.
– Bà em nói – Rô dịch – lửa nhỏ thôi. Đủ cho cái chòi kia thấy là được.
Ba giờ năm phút, ông Pố châm lửa vào đống cây phát.
Lửa bén chậm, rồi bùng lên. Cây keo khô cháy nổ lách tách, bắn tàn đỏ lên trời. Tôi đứng ở ranh lửa, tim đập thình thịch, mắt không rời cột khói. Nếu tôi sai, nếu có một cơn gió nào đó, dù chỉ là gió núi lạc đường, thổi qua lúc này...
Cột khói bốc lên. Thẳng đứng. Cao lên mãi trong đêm không trăng, đỏ rực ở chân, xám bạc ở ngọn, rồi tan vào màn sương. Không nghiêng một chút nào. Bốn người đàn ông đứng bốn góc, bình xịt cầm sẵn. Không ai nói gì. Chỉ có tiếng lửa reo.
Bảy phút sau, trên đỉnh núi bên kia, chấm đèn đỏ của chòi canh lửa đổi nhịp, nhấp nháy dồn dập.
Mười một phút sau, tôi nghe tiếng vo ve. Một chiếc máy bay nhỏ cỡ cái mâm, đèn chớp xanh đỏ, lượn một vòng trên đầu chúng tôi, chiếu đèn xuống đám lửa, rồi lượn thêm vòng nữa, rộng hơn, xuống tận thung lũng. Đèn của nó quét qua ba cái lều màu cam, qua cái cột đèn hiệu, qua chiếc xe tải bay của tôi với mười hai gốc mai đã tháo dây.
Dưới thung lũng có tiếng người la. Đèn pin loạng choạng. Tôi thấy bóng anh Thạch chạy ra khỏi lều, ngửa mặt nhìn cái máy bay nhỏ, rồi nhìn lên đám lửa trên đồi. Anh ta đứng im một lúc rất lâu. Rồi anh ta làm một việc tôi không ngờ. Anh ta không chạy. Anh ta đi vào lều, đem ra cái ghế nhựa, đặt cạnh cột đèn hiệu, ngồi xuống, châm thuốc.
Tiến thì chạy. Cậu ta lao về phía rừng keo, nhưng chiếc máy bay nhỏ bám theo, rọi đèn lên lưng cậu ta, và cậu ta đứng lại giữa bãi mì, hai tay buông thõng.
Hai mươi lăm phút sau, chiếc xe bay của kiểm lâm hạ xuống thung lũng. Theo sau là một xe nữa của đội an ninh xã. Chú kiểm lâm đầu tiên bước xuống đi thẳng lên đồi, mặt hầm hầm, sẵn sàng lập biên bản đốt rẫy trái phép. Ông Pố bước ra, chỉ tay xuống thung lũng, nói một tràng. Chú kiểm lâm quay lại nhìn ba cái lều cam. Rồi nhìn tôi.
– Chị là chủ xe?
– Dạ.
– Xe chị đậu ở đó vì sao?
– Vì đèn hiệu kia báo gió giật bảy mươi lăm cây số – tôi nói. – Chú nhìn khói giùm con.
Chú kiểm lâm nhìn cột khói vẫn đứng thẳng trên đồi. Chú hiểu nhanh hơn tôi tưởng.
Họ tìm thấy máy gây nhiễu trong một cái thùng xốp dưới gầm lều, bọc trong túi ni lông như đồ ăn. Đội an ninh xã tắt nó đi. Mười giây sau, màn hình trên xe của tôi sáng lên.
– Đã bắt tín hiệu vệ tinh. Thoát chế độ cứu hộ. Mở khóa lái.
Cột đèn hiệu, khi người ta tháo hộp máy ra, có gắn một mã đăng ký của một trạm cứu hộ thật ở cao nguyên Đá Đỏ, trạm ấy đã ngưng hoạt động từ hai năm trước. Trong bộ nhớ của nó còn lưu nhật ký mười chín lần dụ hạ cánh. Chiếc xe bay không đèn tới lúc năm giờ rưỡi, thấy xe kiểm lâm thì quay đầu, nhưng chiếc máy bay nhỏ đã kịp ghi lại mã đăng ký trên bụng nó.
Anh Thạch không nói gì khi người ta đưa anh lên xe. Lúc đi ngang qua tôi, anh dừng lại một giây.
– Khói bếp – anh nói, như hỏi mà không phải hỏi.
– Ba tôi dạy – tôi nói.
Anh gật đầu, rất khẽ, rồi cúi xuống chui vào xe.
Tôi ký biên bản, nộp phạt đốt rẫy trái mùa ba trăm nghìn, vì chú kiểm lâm bảo luật là luật, nhưng chú ghi vào biên bản thêm một dòng dài về lý do. Ông Pố không cho tôi trả tiền phạt thay. Ông nói rẫy của ông, ông nộp, cháu ông mất một xe cà phê, ông chờ ngày này lâu rồi. Cuối cùng chúng tôi chia đôi. Tôi trả một trăm rưỡi, ông trả một trăm rưỡi, và bà Hơn nhét vào tay tôi một gói củ mì nướng còn ấm.
Rô với tôi cột lại dây chằng cho mười hai gốc mai. Thằng bé làm nhanh, nút buộc chắc như dân chài. Tôi hỏi ai dạy, nó nói ba nó, ba nó làm bè trên sông Rơ Lài. Tôi không hỏi thêm ba nó giờ ở đâu.
Sáu giờ năm phút, tôi cất cánh. Pin còn bốn mươi mốt phần trăm, đủ ra tới cảng Vạn Hải sạc. Tính đường, tôi sẽ tới Ngự Thành lúc mười một giờ hai mươi, còn dư bốn chục phút để khiêng mai vào sảnh.
Xe nâng lên khỏi thung lũng. Bên dưới, bản làng nhỏ dần, mái tôn lấp lánh nắng sớm. Đống lửa trên rẫy đã tắt, chỉ còn một vệt đất đen. Tôi nhìn xuống những nóc nhà, nơi bếp lửa buổi sáng vừa nhóm.
Những sợi khói đã nghiêng. Nghiêng nhè nhẹ về phía tây nam, đều đặn, như một hàng tóc chải.
Đêm qua không có gió. Sáng nay gió mùa đông bắc mới thật sự về tới núi.
Tôi quay mũi xe vào gió, bay về phía bắc.
— Hết —

🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe
🚀 Khoa học viễn tưởng🎧 Nghe