Chương 1: Buổi một đến buổi bốn
– Chị đọc theo em nhé. "Quảng Nam."
– Quảng Nôm.
– Không, "Nam". Miệng mở ra, như ngáp.
– Nôm.
Châm đặt cây bút chì đỏ xuống bàn, nhìn người đàn ông ngồi đối diện. Ba mươi ba tuổi, vai rộng, da cháy nắng công trường, tay to như hai cái xẻng, ngồi trên cái ghế nhựa trong phòng thu nhỏ xíu của cô ở tầng bốn một ngôi nhà ống phố Hàng Bông, nghiêm túc như học sinh lớp Một. Anh tên Huỳnh Tấn Nhứt, quê Tam Kỳ, kỹ sư cầu đường, đang làm dự án cầu vượt sông Hồng, ở Hà Nội đã hai năm mà giọng vẫn như vừa xuống xe đò.
– Chị không phải gọi em là chị. – Châm nói. – Em kém anh hai tuổi.
– Dạ cô giáo thì kêu là cô. – Anh nói. "Cô" của anh nghe như "cơ". – Mà cô kêu tui là "anh" thì tui cũng kêu cô là "em" được hả?
– Không. – Châm nói. – Đọc lại. "Quảng Nam."
– Quảng… Nờm. – Anh thở ra. – Mà giờ nhập vô Đà Nẵng rồi cô, giấy tờ hổng còn ghi Quảng Nam nữa. Tui sửa chữ này chi cho cực?
– Bố cô gái ấy có đọc giấy tờ của anh đâu. Ông ấy nghe anh nói. Đọc lại.
Châm cố không cười. Tám năm dạy luyện giọng, cô đã sửa đủ thứ: giọng Nghệ của một cô MC, giọng Thanh của một anh phát thanh viên, giọng ngọng "l-n" của một ông giám đốc phải lên phát biểu trước ba nghìn người. Lịch của cô kín ba tháng. Anh Nhứt gọi điện bốn lần, bị từ chối bốn lần, lần thứ năm anh chuyển khoản trước học phí mười hai buổi, nhắn đúng một dòng: "Tui chỉ xin sửa giọng đủ để nói một bài thưa chuyện. Gấp lắm cô ơi." Châm nhận, vì tò mò hơn là vì tiền.
Buổi đầu, anh đưa cô bài thưa chuyện anh viết tay trên tờ giấy kẻ ô, gấp làm tư.
"Thưa bác, cháu là Nhứt, người Quảng Nam. Cháu biết bác dạy văn ba mươi năm, bác không ưa người nói to, nói nhanh, nói giọng nặng. Cháu xin phép bác cho cháu nói chậm. Cháu thương con gái bác đã một năm…"
– "Thương" ở đây không ổn. – Châm lấy bút chì đỏ gạch một nét. – Người Hà Nội nghe "thương" thấy như thương hại. Anh nói "yêu", hoặc "quý". Với bố người ta, "quý" thì an toàn hơn.
– Dạ. – Anh nói. – Mà ở quê tui, "thương" là chữ lớn nhứt rồi cô.
– Ở đây là Hà Nội.
Anh gật, cầm bút sửa. Chữ "thương" bị gạch, bên trên anh viết chữ "quý", nắn nót như học trò.
Buổi hai, cô dạy anh dấu hỏi dấu ngã. Người Quảng không phân biệt được hai dấu này, nói chữ nào cũng ra một thanh nặng trịch ở giữa. Cô bắt anh nói "cũng", "mãi", "nghĩ", "vẫn". Anh nói "cụng", "mại", "nghị", "vẩn". Cô cho anh đặt hai ngón tay lên cổ họng để cảm thấy giọng vút lên rồi gãy. Anh làm theo, mặt đỏ như gấc vì nín thở.
– Bố cô gái ấy kỹ tính lắm à? – Châm hỏi, giữa giờ nghỉ.
– Dạ. Ổng dạy văn trường cấp ba ba mươi năm, về hưu rồi. Ổng nuôi cá cảnh, sáng nào cũng ra vỉa hè phố cổ uống chè chén. Ổng ghét người nói to.
Châm khựng lại một giây. Bố cô dạy văn ba mươi hai năm, về hưu, nuôi một bể cá vàng, sáng nào cũng ra hàng chè đầu ngõ Hàng Bông. Bố cô ghét người nói to. Rồi cô tự cười mình. Hà Nội có cả nghìn ông giáo về hưu nuôi cá, uống chè chén, ghét người nói to.
Buổi ba, anh mang theo một hộp nhựa đựng mì Quảng. Anh nói anh tự nấu ở phòng trọ, sợi mì vàng ươm, nước nhân sệt đỏ màu hạt điều, có tôm, thịt, trứng cút, rắc đậu phộng rang, bánh tráng mè nướng bẻ vụn lên trên.
– Để cảm ơn cô dạy tui nói "Nam".
– Anh vẫn nói "Nôm".
– Dạ thì để cảm ơn trước.
Châm ăn một miếng. Cô định ăn lấy lệ. Cô ăn hết.
Buổi bốn, anh đọc bài thưa chuyện lần đầu từ đầu tới cuối. Dấu hỏi vẫn ngã, chữ "a" vẫn ra "ơ", nhưng chậm, rõ, không vấp. Đọc xong, anh hỏi:
– Nếu cô là con gái ổng, cô nghe vậy cô gật hông?
Châm nhìn tờ giấy trong tay anh. Chỗ chữ "thương" bị gạch, chữ "quý" viết đè lên.
– Em không phải con gái ông ấy. – Cô nói. – Đọc lại đoạn hai.
— Hết chương 1 —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình