Chương 2: Rong mơ và đầu cá
Bà Lẫm sáu mươi tuổi, lưng còng, răng đen nhánh, phơi rong mơ trên mười hai tấm phên. Thứ rong nâu sẫm, lá dài như dải lụa, vớt ở bãi đá ngoài cửa biển, phơi khô để bán cho người ta độn chuồng lợn hoặc bón ruộng. Một bó to bằng ôm tay giá hai đồng.
Tôi bẻ một mẩu, cho vào miệng nhai. Bà Lẫm nhìn tôi như nhìn người dở hơi.
– Cô Bưởi ăn rong lợn à?
Cái vị ấy lan ra trên lưỡi tôi, chậm, mặn mòi, rồi ngọt. Không phải ngọt đường. Là thứ ngọt sâu mà ở thế giới của tôi người ta gọi bằng một cái tên tiếng nước ngoài, rồi đem tinh chế thành những hạt trắng bán trong túi ni lông. Thứ ngọt ấy làm lưỡi người ta tưởng món ăn đậm hơn thực tế. Tức là bớt được muối.
– Bà ơi, – tôi nói, – từ nay bà để rong cho cháu. Rong nào phơi trên phên sạch, không dính cát, cháu lấy hết, trả bà ba đồng một bó.
Bà Lẫm há miệng ra, khoe cả hàm răng đen.
Rồi tôi đi tìm đầu cá. Chợ cá bến Thạch Than mỗi sáng vứt đi cả rổ đầu cá thu, xương cá nục, người ta cho mèo hoặc đổ xuống sông. Tôi xin hết, nướng sơ trên than cho thơm, bỏ vào nồi cùng xương ống lợn. Tôi mua tôm khô vụn, loại tôm gãy râu người ta bán rẻ. Tôi nướng hành khô, nướng gừng, đúng như ba mươi năm nay tôi vẫn làm cho nồi phở, chỉ có điều không có một chiếc xương bò nào.
Nồi nước đầu tiên tôi nấu ở bến Thạch Than không phải là phở. Nó trong, vàng nhạt như nước chè, mùi biển và mùi khói. Tôi bỏ vào đó một muôi muối, đúng một muôi.
Cái muôi ấy là muôi gỗ của chồng Bưởi để lại, cán dài, lòng sâu. Tôi lấy mũi dao khắc vào lòng muôi ba vạch. Vạch thứ nhất là lượng muối cho một nồi bốn mươi bát nước xương bình thường. Vạch thứ hai là lượng muối cho một nồi nước có rong và đầu cá. Vạch thứ hai thấp hơn vạch thứ nhất gần một nửa, chưa tới nửa lạng muối. Phần mặn còn lại đã nằm sẵn trong rong biển, trong tôm khô, những thứ vốn phơi dưới nắng biển mà ra.
– Thím khắc vạch thứ ba để làm gì? – thằng Cún hỏi, hôm tôi dạy nó nêm.
– Để dành.
– Dành cho cái gì?
– Cho ngày nào có bò.
Nó không hiểu. Tôi cũng không giải thích. Ba tháng sau, khách đã xếp hàng từ đầu bến, phu khuân vác, lái đò, mấy anh học trò đi thi qua trấn, cả người làm của tửu lâu Hằng Phong cũng lén sang ăn. Tôi trả xong hai lạng nợ cho Uông Thành. Tôi mua thêm một cái nồi đồng thứ hai. Và tháng nào tôi cũng chỉ mua ba cân muối quan, đúng ba cân, vì muôi gỗ ba vạch của tôi chỉ cần chừng ấy.
Tôi không nghĩ rằng chính sự tiết kiệm ấy lại thành tội.
Tối hôm diêm lại tới, tôi ngồi với thằng Cún bên bếp lửa đang tàn.
– Thím cứ nói với ông ấy là thím dùng rong của bà Lẫm, – nó bảo.
– Nói rồi ông ấy có tin không?
Nó nghĩ một lúc, rồi lắc đầu.
– Rong là đồ cho lợn. Ai tin người ta bỏ đồ cho lợn vào nồi bún.
Thằng nhỏ nói đúng. Người thời này nêm bằng muối, bằng tương, bằng mắm. Ai mà tin cái lá khô mười hai tấm phên của bà Lẫm lại làm lưỡi người ta tưởng nước đậm hơn. Mà nếu tôi nói ra, ngày mai cả trấn sẽ xuống bãi bồi mua rong, và ngày kia, quán tôi sẽ không còn gì khác những quán khác. Đó là bí quyết duy nhất tôi có.
– Ai báo ông ấy nhỉ? – tôi hỏi, không hẳn là hỏi nó.
Thằng Cún nhặt một que củi, vẽ vẽ xuống đất.
– Cháu thấy ông Uông đứng nói chuyện với ông diêm lại ở cổng ty Diêm hôm kia. Lâu lắm.
Tôi không ngạc nhiên. Từ hôm quán tôi đông khách, tửu lâu Hằng Phong vắng hẳn bàn trưa. Uông Thành không phải người xấu kiểu trong tuồng. Ông ta béo, cười nhiều, cho tôi khất nợ thêm một tháng hồi Bưởi mới chết chồng. Nhưng ông ta là người làm ăn, và người làm ăn thì không thích có một cái quán năm đồng một bát đứng ngay trước cửa nhà mình.
– Mà thím ạ, – thằng Cún nói tiếp, – cá kho ở Hằng Phong mặn lắm. Cháu ăn trộm một miếng hôm rửa bát thuê bên ấy. Mặn chát. Bên ấy kho cá cả chảo to như cái nong, ngày nào cũng kho. Muối ở đâu ra mà nhiều thế?
Tôi quay sang nhìn nó.
– Cháu ăn miếng cá ấy, có thấy gì lạ không?
– Lạ gì cơ?
– Cái vị ấy. Mặn xong rồi có đắng không. Có lạo xạo như nhai cát không.
Thằng Cún nhăn mặt nhớ lại. Rồi nó gật đầu, rất chắc chắn.
– Có. Đắng ở cuống lưỡi. Cháu tưởng tại cá ươn.
Tôi ngồi im rất lâu. Ba mươi năm nêm nước dùng, tôi biết rõ một điều mà ở cái trấn này có lẽ chỉ người làm muối mới biết: muối phơi trên cát, không rửa, không nấu lại, thì còn dính cái chất đắng của nước biển. Nêm vào món nóng, cái đắng ấy lẩn sau vị mặn, đọng lại ở cuống lưỡi, và dưới đáy nồi sẽ có một lớp sạn mịn. Muối quan thì không, vì ty Diêm bắt dân làm muối nấu lại cho trắng. Người ta trả ba mươi đồng chính là để trả cho cái việc nấu lại ấy.
Nhưng biết là một chuyện. Bắt được là chuyện khác. Tôi là một góa phụ bán bún nợ chưa trả hết. Ông ta là chủ tửu lâu lớn nhất trấn, uống rượu với cả diêm lại lẫn tri trấn. Tôi đi tố ông ta thì người ta sẽ bảo tôi cắn càn.
– Cún, – tôi nói. – Mai cháu sang Hằng Phong rửa bát thuê tiếp được không?
– Được. Bên ấy trả hai đồng một buổi.
– Lúc người ta đổ bã nồi cá kho, cháu xin cho thím một nắm cặn đáy chảo. Gói vào lá chuối. Đừng để ai thấy.
— Hết chương 2 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không