Chương 1: Nồi nước không có bò
– Tháng này chị Bưởi mua của ty Diêm đúng ba cân muối. Ba cân. Mà nồi nước của chị đậm như nước biển. Muối ở đâu ra?
Diêm lại Đổng Khải nói câu đó lúc giờ Thìn, đứng ngay giữa quán, một tay cầm cái vung nồi vừa nhấc lên, một tay chống nạnh. Hơi nước bốc lên che mất nửa mặt ông ta. Mười hai người khách đang húp bún dừng đũa. Thằng Cún, đứa nhỏ tôi nuôi cho ăn để nó rửa bát, đánh rơi cái bát xuống nền đất, may mà không vỡ.
Tôi lau tay vào tạp dề. Ba tháng nay tôi đã quen với cái tên Bưởi, quen với cái thân người đàn bà hai mươi sáu tuổi gầy như que củi, quen cả cái giọng the thé không phải của mình. Nhưng tôi vẫn chưa quen bị người ta lật vung nồi nước dùng. Ba mươi năm đứng bếp ở một góc phố Văn Cao, Nam Định, chưa ai dám làm thế với nồi của tôi.
– Thưa ông, muối tôi mua đủ dùng thì tôi mua đủ, – tôi đáp. – Ông nếm thử xem có mặn không đã.
– Nếm thì nếm.
Ông ta múc một muôi, thổi, húp. Tôi nhìn cái yết hầu của ông ta lên xuống, nhìn hai hàng lông mày nhíu lại rồi giãn ra. Tôi biết cái nét mặt ấy. Đó là nét mặt của người ăn một thứ ngon mà không muốn thừa nhận.
– Đậm, – ông ta nói. – Đậm mà không mặn. Thế lại càng lạ.
Rồi ông ta đặt cái muôi xuống, chỉ tay vào tôi:
– Có người báo quán chị dùng muối lậu. Triều đình đang siết muối, lệnh trên mới về tháng trước, bắt được buôn lậu thì phạt mười lạng bạc, niêm quán. Tôi cho chị ba ngày. Ba ngày nữa tôi quay lại, chị phải nói cho tôi biết vì sao ba cân muối nấu được ba nghìn sáu trăm bát bún. Không nói được thì chị biết rồi đấy.
Ông ta đi. Mười hai người khách ăn vội rồi đứng dậy, có người không đợi tôi thối tiền.
Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh bếp. Thằng Cún bò tới ngồi cạnh, hỏi khẽ:
– Thím Bưởi có dùng muối lậu thật không?
– Không.
– Thế sao nước của thím lại ngọt thế?
Tôi nhìn nó. Nó chín tuổi, mồ côi, ngủ dưới gầm cầu bến đò cho tới ngày tôi gọi vào ăn một bát bún thừa. Nó hỏi câu mà cả trấn Thạch Than đang hỏi.
Câu trả lời thì đơn giản. Nhưng muốn nói cho người thời này hiểu thì không đơn giản chút nào.
Ba tháng trước, tôi gục xuống bên nồi xương lúc ba giờ sáng, ở cái quán phở mẹ tôi để lại. Mở mắt ra thì đang nằm trên một tấm phản tre, mái lá dột, ngoài kia là tiếng mái chèo khua nước và tiếng người gọi đò. Người đàn bà tên Bưởi này vừa chết chồng được bốn mươi ngày, ôm cái quán bún ế ở đầu bến cùng một món nợ bốn lạng bạc. Chủ nợ là Uông Thành, chủ tửu lâu Hằng Phong cách đó năm chục bước chân, nơi mùi cá kho bay sang quán tôi từ sáng tới tối.
Tôi là đầu bếp. Thứ đầu tiên tôi nghĩ tới khi hiểu ra mình đang ở đâu, không phải là làm sao về nhà, mà là: ở đây có bò không.
Không có. Đúng hơn là có, nhưng không được giết. Triều Khải Ninh cấm mổ trâu bò cày. Muốn mổ phải có con bò què hoặc bò già quá mười hai năm, phải có giấy của quan, mà giấy ấy thì nhà giàu mới xin nổi. Một cân thịt bò ở chợ trấn giá bằng ba cân thịt lợn, mà cả tháng chưa chắc có một lần.
Thứ hai tôi hỏi là: muối bao nhiêu tiền.
Ba mươi đồng một cân. Muối quan, bán ở ty Diêm cạnh đình, trắng tinh, hạt nhỏ, nấu lại từ muối phơi. Muối lậu thì tám đồng, hạt to, xám, lẫn cát, người ta bán chui dưới khoang thuyền. Ba mươi đồng là tiền ăn hai ngày của một người phu khuân vác. Bát bún của Bưởi chỉ bán được năm đồng.
Tôi đứng giữa cái bếp đất ba ngày liền, nếm từng thứ có trong cái trấn ven sông này. Rồi tôi đi xuống bãi bồi phía cửa sông, nơi các bà vợ dân chài phơi đủ thứ trên những tấm phên tre.
Ở đó tôi gặp bà Lẫm.
— Hết chương 1 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe