Chương 2: Tháng Năm: câu hỏi thứ nhất
Cường đọc hợp đồng ở xưởng vào một buổi trưa, đọc lướt, rồi bảo tôi rằng anh thấy được. Giá năm nghìn rưỡi một cân chè búp tươi, cao hơn giá trung bình năm ngoái năm trăm đồng. Có cọc, có thời hạn, có chữ ký.
– Anh đọc trang chín chưa? – Tôi hỏi.
– Trang chín nói chi?
– Chất lượng chè do bên mua đánh giá. Chè không đạt chuẩn thì bên mua có quyền từ chối, bên bán không được bán cho người khác trong thời hạn hợp đồng, vi phạm thì phạt gấp ba lần tiền cọc.
Cường đọc lại trang chín. Anh im một lúc, rồi gãi đầu.
– Thì chè nhà mình ngon, sợ chi không đạt.
– Anh ơi, chuẩn là do ông ấy nói. Không có cân, không có máy đo, không có ai chứng. Ông ấy bảo không đạt là không đạt. Lúc đó mình không được bán cho ai khác, mà bán là phạt hai trăm bốn mươi triệu.
Cường không trả lời. Anh là người tốt, nhưng anh lớn lên trong một cái xóm mà người ta làm ăn với nhau bằng chén nước chè và cái bắt tay. Anh không quen nghĩ rằng một người cười hiền như ông Hữu lại viết một câu như thế vào trang chín.
Tối ấy tôi làm một việc mà tôi biết sẽ làm mạ giận. Tôi lấy cuốn sổ xưởng, mở máy, gọi cho chị Vân, giám đốc hợp tác xã chè của xã bên, người tôi từng dịch giúp một bộ hồ sơ xin chứng nhận hồi tháng Ba. Chị nghe tôi đọc trang chín, cười khan.
– Em ơi, năm ngoái giá chè búp tươi có lúc lên tám nghìn. Bao tiêu năm nghìn rưỡi mà cấm bán chỗ khác là bẫy. Năm nào giá thấp, ông nhận đủ. Năm nào giá cao, ông chê không đạt, nhà người ta không dám bán chỗ khác, chè héo trong gùi, rồi ông quay lại mua với giá ba nghìn. Bên chị gặp ba vụ như rứa rồi.
Tuần sau ông Hữu quay lại, đúng chiều thứ Bảy. Lần này có cả Cường, cả bọ ngồi trên chiếc ghế xếp có đệm, cả tôi. Mạ không đuổi tôi đi, nhưng cũng không gọi tôi ngồi. Tôi đứng ở cột hiên.
Ông Hữu đặt xấp tiền cọc lên phản, buộc dây thun, tám mươi triệu toàn tờ năm trăm. Ông đặt cây bút lên trên.
Tôi xin phép mạ, rồi hỏi:
– Chú ơi, con hỏi một câu thôi. Chè không đạt chuẩn thì ai đánh giá, đánh giá bằng cách nào ạ?
– Thì bên chú có người nhìn. Làm chè mấy chục năm, nhìn là biết.
– Dạ. Thế mình viết thêm vào là hai bên cùng lấy mẫu, mỗi bên giữ một bọc, có người của hợp tác xã xã bên chứng, chú có đồng ý không ạ?
Ông Hữu vẫn cười, nhưng cái cười đã mỏng đi.
– Thì cần chi rứa. Người trong xóm với nhau.
– Dạ, vì chú làm với cả xóm, nên con nghĩ càng cần. Với lại con xin thêm một dòng nữa: năm nào giá thị trường cao hơn giá bao tiêu quá một nghìn thì hai bên ngồi lại tính lại giá.
Lúc ấy tôi thấy ông Hữu liếc sang mạ. Đó là cái liếc của người đang tìm một đồng minh. Mạ ngồi im, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn xấp tiền.
– Con dâu chị học cao. – Ông Hữu nói, rồi đứng dậy, cất xấp tiền vào cặp. – Thôi, để nhà mình bàn thêm. Mình không vội.
Xe ông vừa ra khỏi ngõ thì mạ đứng dậy. Bà đi thẳng xuống bếp, và cả buổi tối hôm ấy tiếng chổi quét sân nghe như ai đang đánh nhau.
Cường bảo tôi lẽ ra không nên nói trước mặt người ngoài. Bọ không nói gì, chỉ ho. Tôi nằm quay mặt vào vách, nghe tiếng mạ nói với Cường ở ngoài hiên, giọng bà nhỏ, đứt quãng:
– Hắn làm mạ mất mặt với người ta. Cả xóm ký, nhà mình không ký. Mai ra giếng, người ta hỏi, mạ nói răng?
Hai tuần sau đó, mạ không nói với tôi câu nào ngoài những câu cần thiết. Cơm chín thì bà gọi Cường. Chè sao xong thì bà gọi Cường. Tôi ngồi trong buồng nói tiếng Anh với khách bên Úc, mắt nhìn ra cửa sổ thấy bà gùi chè trên đồi, cái nón lá nhấp nhô giữa những hàng chè đều như đường kẻ vở.
Cuối tháng Năm, mưa đầu mùa xuống, chè ra búp rộ. Và giá chè búp tươi ở chợ tỉnh lên bảy nghìn rưỡi.
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt