Chương 3: Lứa chè thu
Nhài không đến hái chè nhà bà Đồ Lanh nữa.
Nàng nhờ người nhắn là bị sốt. Ba ngày sau nàng nhờ nhắn là nhà bận việc. Đến ngày thứ năm, bà Đồ Lanh tự xuống chân đồi tìm nàng, thấy nàng đang hái chè cho nhà ông Tư Mạo ở đồi bên kia.
– Cháu giận thư sinh à? – Bà Đồ hỏi.
– Cháu không giận ai cả. – Nhài đáp, tay ngắt búp nhanh hơn bình thường. – Cả chợ Tân Lĩnh giờ gọi cháu là cô hái chè có thơ. Lái chè dưới xuôi lên mua chè của cháu, câu đầu tiên là hỏi chè này có kèm thơ không.
– Thì chè bán chạy hơn.
– Cháu không bán thơ.
Bà Đồ Lanh đứng nhìn Nhài hái chè một lúc, rồi nói, giọng chậm rãi của người đã ngoài sáu mươi:
– Bài ấy nó không vò đâu cháu ạ. Nó gấp làm tư, để dưới cái nghiên. Tôi dọn bàn tưởng là giấy bỏ, nên nhặt đi. Mấy hôm nay nó lục tung cả gian chái tìm, tôi mới biết là tôi lấy nhầm.
Nhài dừng tay.
– Thế anh ấy định làm gì với bài ấy?
– Nó bảo, đợi đến hôm cháu đọc được hết tám câu thì nó đưa. Nó còn tính, cháu học đến chữ thứ hai trăm năm mươi là vừa đủ chữ trong bài.
Nhài cúi xuống luống chè. Hai trăm năm mươi. Nàng mới học đến hai trăm.
– Mười ngày nữa nó đi thi – Bà Đồ Lanh nói. – Thi xong thì nó về quê luôn, không lên đây nữa. Nó bảo lên mà người ta không muốn gặp thì làm phiền người ta.
Còn Minh thì sang chân đồi tìm nàng hai lần. Lần đầu, anh đứng ở cổng, ông Đào cha nàng ra tiếp. Ông Đào là người ít lời, tay chai như vỏ cây, mời anh ngồi uống nước rồi im lặng hút thuốc lào.
– Cháu xin lỗi bác – Minh nói. – Bài thơ ấy cháu không có ý đem ra chợ.
– Thế cháu có ý gì?
Minh nghẹn lời. Ông Đào rít một hơi thuốc dài, nhả khói ra từ từ.
– Con Nhài nhà tôi nó không giận cái bài thơ đâu. Nó giận vì cả chợ đọc được trước nó. – Ông gõ cái điếu cày xuống đất. – Cháu về đi. Nó mà muốn gặp thì nó tự biết đường lên đồi.
Lần thứ hai, Minh không vào cổng. Anh để lại ở cọc rào một mảnh giấy, trên đó viết đúng một chữ: lỗi. Hôm sau mảnh giấy không còn ở cọc rào nữa. Ai gỡ đi, anh không dám hỏi.
Mười ngày ấy, Nhài vẫn hái chè cho nhà ông Tư Mạo. Nhưng tối nào nàng cũng ngồi trước hiên nhà mình, trước mặt là tờ giấy gói chè mà bà Sáu Rịa đã vuốt phẳng và gửi lại cho nàng, kèm theo một câu: con gái được người ta viết cho như thế thì đừng để mất. Nàng cầm que, vạch từng chữ trong bài thơ xuống mặt đất, chữ nào biết thì đọc, chữ nào không biết thì nhớ hình, sáng hôm sau đi hỏi ông thầy đồ già dưới chân đồi. Ông thầy đồ già nhìn những chữ nàng vạch, rồi nhìn nàng, rồi cười mà không nói gì.
Đến tối thứ chín, nàng đọc được trọn bài thơ. Nàng đọc đi đọc lại tám câu ấy, không phải bằng giọng ngân của bà Sáu Rịa, mà bằng giọng của chính mình, nhỏ đến mức chỉ có con mèo nằm dưới chân nghe thấy.
Sáng hôm Minh đi, sương trên đồi Mõ Gà dày như khói. Anh xách tay nải xuống bến đò dưới chân đồi, đi qua những luống chè đã hái xong lứa cuối, chỉ còn trơ những cành lá già. Bà Đồ Lanh tiễn đến cổng, dúi vào tay anh một nắm xôi gói lá chuối.
Đến bến đò, có người đứng chờ sẵn. Nhài đội nón, tay cầm một gói chè nhỏ bọc giấy bản.
– Chè lứa thu – Nàng nói, chìa gói chè ra. – Mẻ cuối, tôi tự sao. Lên kinh uống cho tỉnh mà làm bài.
Minh nhận gói chè. Anh muốn nói rất nhiều. Muốn xin lỗi vì bài thơ, muốn giải thích chuyện bà Đồ lấy nhầm, muốn hỏi nàng đã hết giận chưa. Nhưng người lái đò đã gọi, và Nhài thì đã quay lưng đi lên đồi, nhanh như lúc nàng ngắt búp chè.
Đò ra đến giữa sông, Minh mới mở gói chè. Chè lứa thu xoăn cánh, xanh đen, thơm mùi cốm. Anh định gói lại thì nhìn thấy mặt trong của tờ giấy.
Ở đó có chữ. Không phải chữ của anh. Chữ to, nét vụng, có một nét bị nhòe vì người viết đè bút quá mạnh. Chỉ có bốn chữ, viết thẳng hàng:
Một tôm hai lá.
Minh ngồi nhìn bốn chữ ấy rất lâu. Người lái đò hỏi anh có sao không, sao mặt đỏ thế. Anh bảo không sao, chắc tại gió sông.
Anh nhớ buổi trưa đầu tiên dưới gốc cây trám. Hái thêm lá thứ ba là già quá. Hái mỗi cái tôm là non quá. Một tôm hai lá là vừa độ.
Lứa chè xuân năm sau, khi những búp tôm đầu tiên vừa nhú trên đồi Mõ Gà, có một người đàn ông mặc áo the, xách một cái tay nải nhỏ, từ bến đò đi lên. Anh không ghé nhà bà Đồ Lanh trước. Anh đi thẳng ra luống chè đầu đồi, nơi có cô gái đội nón đang hái, xắn tay áo lên, cúi xuống ngắt một búp.
– Một tôm hai lá – Anh nói. – Tôi hái đúng chưa?
Nhài không ngẩng lên. Nàng cầm lấy cái búp trong tay anh, xem xét kỹ lưỡng như xem một đồng bạc.
– Đúng – Nàng nói. – Nhưng chậm như bà cụ tám mươi.
Anh không hỏi gì thêm. Nàng cũng không trả lại cái búp chè ấy cho anh.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu