Chương 1: Giờ Mão và giờ Thìn
Giờ Mão, sương trên sông Lương còn dày đến mức Đậu Văn Tranh không nhìn thấy chiếc thuyền thứ bảy, chỉ nghe tiếng nước vỗ vào mạn gỗ của nó ở cuối bến.
Lão Cù, người lái thuyền già nhất của nhà họ Đậu, đã ngồi sẵn trên đầu cầu tàu, hút điếu cày.
– Hôm nay cậu Hai đi từ đường à? – Lão hỏi, không quay lại.
– Dạ.
– Thế thì ra đây làm gì?
– Đếm thuyền. – Văn Tranh đáp. – Sợ chiều nay không còn được đếm.
Lão Cù nhả khói, cười khùng khục.
Văn Tranh hai mươi sáu tuổi, con thứ của ông Đậu Hữu Thành, chủ bảy chiếc thuyền buôn chở gạo, muối, gốm từ phủ Lương Châu xuôi xuống cửa biển. Mẹ chàng là Mai di nương, vợ lẽ, vốn là con gái một nhà chài trên sông. Anh cả Đậu Văn Khải là con của chính thất Thạch phu nhân, hơn chàng sáu tuổi, giữ tiệm vải và mấy căn nhà phố trong trấn. Từ năm mười tám, Văn Tranh theo cha lênh đênh trên thuyền, thuộc từng con nước, từng khúc cạn, từng quan thu thuế ở mỗi bến. Anh cả thì chưa xuống thuyền quá ba lần, lần nào cũng say sóng.
Bốn mươi chín ngày trước, cha chàng ngã xuống trong kho hàng ở bến, không nói được câu nào. Năm ngoái ông bị một cơn trúng phong, tay phải run, đã không cầm bút được như trước.
Văn Tranh đi dọc bến, đặt tay lên mạn từng chiếc thuyền. Bảy chiếc. Ba chiếc mới đóng năm ngoái, gỗ lim còn thơm. Chàng biết một điều mà cả nhà không ai biết, trừ mẹ chàng: để đóng ba chiếc ấy, cha đã vay hiệu Hằng Thông ở phủ Lương Châu chín ngàn lạng bạc, đem cả bảy thuyền lẫn kho bến ra làm vật bảo đảm. Hạn trả là cuối tháng Ba năm sau. Ông vay vì đã thương lượng được với nha môn vận lương, ba năm tới thuyền nhà họ Đậu sẽ chở lương thuế của cả phủ, đủ trả nợ và còn lời gấp đôi. Nhưng hợp đồng ấy là ký với người, không ký với thuyền. Quan vận lương chỉ tin cha chàng, và người cha mang theo mỗi lần lên nha môn là Văn Tranh.
Tháng trước, chàng đã tìm anh cả, nói chuyện khoản nợ. Văn Khải đang ngồi tính sổ tiệm vải, không ngẩng đầu lên:
– Mày muốn chia nhiều thì cứ nói thẳng ra. Bày đặt chuyện nợ nần dọa ai?
Chàng không nói thêm.
Trước khi ra bến sáng nay, chàng ghé gian nhà nhỏ phía sau của mẹ. Mai di nương đã dậy từ lâu, ngồi nhóm bếp, nấu nồi cháo cá như mọi buổi sáng chồng bà còn sống. Bà không quay lại khi chàng bước vào.
– Hôm nay mẹ ngồi sau rèm, chẳng ai hỏi gì mẹ đâu. – Chàng nói.
– Mẹ biết. – Bà khuấy nồi cháo. – Cha con dặn mẹ một câu, mẹ nhớ một câu. Không ai giành thì thôi.
– Nếu có người giành?
Bà đặt cái muôi xuống, lần đầu tiên nhìn thẳng vào con trai.
– Thì con đừng giành lại bằng mồm. Nhà chài bọn mẹ, gặp nước xoáy không ai bơi ngược. Bơi ngang, để nó tự đẩy mình ra.
Chàng ăn hết bát cháo, rồi mới đi.
Từ đường họ Đậu nằm sau dãy nhà phố, mái ngói rêu xanh, trước sân có hai cây cau. Giờ Thìn, mười một người đàn ông trong tộc đã ngồi đủ hai bên chiếu, đứng đầu là chú ba Đậu Hữu Tín, tộc trưởng. Thạch phu nhân ngồi sau tấm rèm tre bên trái, Mai di nương ngồi sau tấm rèm bên phải, thấp hơn nửa bậc.
Thạch phu nhân trao cho tộc trưởng một phong thư dán kín. Bà nói chồng bà viết di chúc từ tháng Giêng, giao cho bà giữ.
Chú ba bóc ra, đọc to. Giọng ông khàn, đọc chậm:
– Ta, Đậu Hữu Thành, tự biết tuổi cao sức yếu, nay định việc gia sản như sau. Bảy thuyền, kho bến, tiệm vải, nhà phố bốn căn, giao cho con trưởng Văn Khải quản lý, để giữ gia nghiệp. Ruộng tám mươi mẫu ở thôn Hạ Vạn, giao cho con thứ Văn Tranh, lo việc hương khói nhà thờ tổ ở quê. Mai thị theo con thứ về quê ở. Hai anh em phải hòa thuận.
Đọc xong, cả từ đường im lặng. Rồi có tiếng gật gù. Một ông chú họ bảo: thế là phải, đích tử giữ nghiệp, thứ tử giữ hương khói, đâu ra đấy. Văn Khải ngồi thẳng lưng, mặt không biến sắc nhưng bàn tay đặt trên gối khẽ nắm lại.
Chú ba đưa tờ di chúc cho hai anh em xem, theo lệ.
Văn Tranh cầm lên. Nét chữ đều, nghiêng nhẹ sang phải, nét sổ thẳng tắp, đúng kiểu chữ cha chàng hồi trẻ. Chữ "Hữu" có nét móc cong như đuôi cá mà cha chàng hay viết. Người viết giả đã xem kỹ chữ cha.
Nhưng tháng Giêng năm nay, tay phải của cha đã run sau cơn trúng phong. Mọi giấy tờ từ tháng Mười năm ngoái trở đi, nét sổ của ông đều có một chỗ gợn, như sợi chỉ bị vặn. Văn Tranh biết, vì chàng là người ngồi cạnh cha mỗi lần ông ký hóa đơn với nha môn vận lương, và có lần ông vứt bút, cáu kỉnh bảo: chữ ta giờ như chữ trẻ con tập viết.
Tờ di chúc này không có chỗ gợn nào.
Chàng đặt tờ giấy xuống. Sau tấm rèm bên phải, chàng nghe tiếng mẹ chàng thở rất khẽ. Bà biết. Vì trong cái rương gỗ dưới giường của bà, có một tờ di chúc khác, viết bằng nét chữ run rẩy, đề ngày mười hai tháng Hai, mà cha chàng đã đưa cho bà một tháng trước khi mất, dặn: không ai giành thì đừng đưa ra, có người giành thì đưa.
Tờ ấy giao cho Văn Tranh bảy thuyền, kho bến và khoản nợ chín ngàn lạng. Giao cho Văn Khải tiệm vải, nhà phố, tám mươi mẫu ruộng, không có đồng nợ nào.
Văn Tranh có thể đưa tờ ấy ra ngay bây giờ. Chàng nhìn khắp lượt mười một người đàn ông trong từ đường. Một đứa con vợ lẽ, đứng dậy giữa từ đường bảo đích mẫu làm giả di chúc, đưa ra một tờ khác chữ run như trẻ con tập viết. Chú ba sẽ tin ai? Các ông chú họ, những người cả đời mua vải chịu ở tiệm của Văn Khải, sẽ đứng về phía ai? Chàng sẽ thành đứa con thứ tranh gia sản, bất hiếu, làm loạn gia phong, và tờ di chúc thật sẽ thành tờ di chúc bị nghi ngờ.
Chàng cần một thứ khác trước. Chàng cần chính anh cả mình, trước mặt cả tộc, tự cầm lấy phần mà anh ấy không biết là gì.
— Hết chương 1 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu