AI Truyện
Món nợ một vạt áo chàm

🏯 Cổ đại & cung đấu

Ba roi mây

Món nợ một vạt áo chàm · Chương 3/3 · Sáng tác: AI Truyện

📖 6 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Ba roi mây

Thầy đồ Lễ sống tới bảy mươi mốt tuổi.

Ba mươi bảy năm sau củ hà thủ ô, ta vẫn chưa trả được nợ. Năm con trai út của anh đi lạc trong rừng, ta dẫn đường cho nó bằng cách để lại lông trên bụi gai, từng nhúm một, tới tận bìa làng. Thằng bé về kể có con cáo đỏ dắt nó, cả làng cười bảo nó mê sảng. Chỉ có ông bố không cười. Ông đi ra bìa rừng, đặt một nắm xôi lên tảng đá, rồi về.

Nắm xôi ấy ta ăn. Ta không phải cáo kiêu ngạo tới mức chê xôi.

Mùa đông năm bảy mươi mốt, ông nằm liệt. Bà Thắm mất trước ông hai năm. Con cháu, học trò tối nào cũng ngồi kín nhà.

Một đêm, ông bảo con cháu đi ngủ cả, để ông nằm một mình. Ông bảo mở cánh cửa sổ phía núi. Đêm tháng Chạp, gió lùa vào lạnh buốt, nhưng ông nói ông muốn ngửi mùi thông.

Ta biết đêm ấy là đêm cuối cùng. Loài cáo ngửi được mùi người sắp đi, như ngửi được mùi mưa trước khi mây kéo tới. Ta không hoá người. Ta nhảy qua cửa sổ, đi vào bằng bốn chân, như con cáo bị kẹp bẫy sáu mươi hai năm về trước.

Ông nằm quay mặt ra cửa sổ, thấy ta mà không ngạc nhiên chút nào.

– Lại đây. – Ông nói. – Cổ chân cô sao rồi?

Ta đứng sững giữa nhà. Ta nghe con chuột trên xà nhà ngừng gặm.

– Ngồi xuống đi. – Ông nói tiếp, giọng đã yếu, nhưng vẫn cái giọng khàn của thằng bé bị cảm. – Tôi biết cô từ hôm cô để hũ bạc trước cửa. Cô ngồi trên ngọn tre, đuôi thò ra khỏi lá. Tám cái. Tôi đếm được. Lúc ấy tôi tưởng mình hoa mắt vì đói.

– Còn bà già bán chè? – Ta hỏi. Đó là lần đầu tiên ta nói tiếng người trước mặt ông bằng chính giọng mình.

– Mảnh chàm ở cổ chân. – Ông cười. – Áo của tôi, mẹ tôi nhuộm bằng chàm lá. Nhà khác nhuộm chàm củ, màu khác. Người hái thuốc mang củ hà thủ ô đến cũng buộc mảnh ấy ở cổ tay. Cô không biết giấu gì cả.

Ta muốn cãi rằng ta đã giấu kỹ. Rồi ta nhớ lại ánh mắt của ông nhìn xuống gấu váy trên đèo Ba Dội, và ta thôi.

– Ông biết, – ta nói, – vậy sao ông chưa bao giờ nói câu ấy?

– Câu nào?

– Thế là hết nợ.

Ông im một lúc lâu. Gió thổi qua cửa sổ, lật mấy trang sách để ở đầu giường. Ngọn đèn dầu nghiêng đi rồi đứng lại.

– Cô có nhớ hôm ấy tôi gánh củi đi về phía nào không? – Ông hỏi.

Ta nhớ. Ta nhớ con đường rẽ hai ngả. Ngả xuống bến sông Dài.

– Tôi không đi bán củi. – Ông nói. – Đêm trước, có một người lạ ghé làng, đứng ở đầu chợ hỏi han mấy đứa trẻ nhà nghèo. Hắn bảo dưới bến có thuyền đi xuôi, ai theo thì có cơm trắng ăn ngày ba bữa, có việc làm ở một xưởng muối ngoài biển, mỗi năm gửi tiền về cho mẹ. Nhà tôi hết gạo từ rằm. Mẹ tôi ăn cháo cám, nhường cơm cho tôi, mà tôi biết. Tôi gánh củi là để mẹ tưởng tôi đi củi. Tôi định ra bến, theo thuyền.

Ông dừng lại thở. Ta chờ.

– Tôi gặp cô trong bẫy. – Ông nói. – Tôi gỡ cô ra, xé áo buộc cho cô. Xong rồi tôi nhìn xuống cái áo. Nó rách hết một vạt, hở cả bụng. Tôi nghĩ, mặc thế này xuống bến, người ta nhìn vào là biết con nhà gì. Tôi xấu hổ. Tôi đứng ở ngã rẽ một lúc lâu, rồi quay về. Về nhà mẹ đánh tôi ba roi vì tội làm rách áo.

Ta nhớ ba roi. Ta nhớ thằng bé đứng im chịu đòn rồi khóc sau đó, khóc như người vừa thoát được một cái gì.

– Cái thuyền ấy, – ông nói, – đi được ba ngày thì người ta biết. Không có xưởng muối nào cả. Mười một đứa trẻ, ba làng, bị bán lên mỏ đồng trên biên. Năm năm sau quan huyện mới truy ra được. Về được bốn đứa. Một đứa ở xóm Đoài, tôi chơi với nó từ nhỏ. Nó về không nói được nữa.

Ông quay mặt nhìn ta. Mắt ông đục rồi, nhưng vẫn là đôi mắt hồi chín tuổi, không sợ con cáo nhe răng.

– Thế cô bảo, – ông nói, – ai nợ ai?

Ta không biết trả lời. Tám trăm năm cộng sáu mươi hai năm, ta không có câu nào cho câu hỏi ấy. Ta cứ tưởng ta là kẻ được cứu. Hoá ra ta là cái vạt áo bị xé, là cái lý do để một thằng bé quay về.

– Tôi không nói hết nợ, – ông nói, chậm rãi, – vì tôi sợ nói ra thì cô bảo, phải rồi, hết nợ, rồi cô đi. Tôi muốn cô cứ quanh quẩn ngoài kia. Ngồi trên ngọn tre. Mang xôi đi. Dắt con tôi ra khỏi rừng. Tôi có lỗi với cô chuyện ấy. Tôi biết cái đuôi của cô.

– Ông biết cả chuyện cái đuôi?

– Cô nói mê. – Ông cười, rồi ho. – Đêm hè, cô nằm trên bờ đá sau nhà, nói mê cái gì về đuôi thứ chín. Bà Thắm cũng nghe. Bà ấy dặn tôi bao giờ sắp đi thì nhớ trả cô.

Ta nằm xuống cạnh giường. Ông thò bàn tay khô như que củi xuống, sờ vào cổ chân ta, chỗ mảnh vải chàm đã bạc gần thành màu tro, mỏng như lá tre mục.

– Thôi, – ông nói, – mình huề nhau, cô nhé. Thế là hết nợ.

Ta không nhớ mình có trả lời gì không. Chỉ nhớ bàn tay ông đặt trên cổ chân ta cho tới lúc gà gáy lần thứ hai dưới làng Khê Thượng, rồi nặng dần, rồi thôi.

Sáng hôm sau con cháu ông vào, thấy ông nằm yên, miệng còn như đang cười. Cánh cửa sổ phía núi mở. Trên chiếu, chỗ cạnh giường, có mấy sợi lông đỏ. Không ai để ý.

Đám tang thầy đồ Lễ có hơn trăm học trò về đưa, và một bà già lạ mặt đứng tít ở cuối đoàn, chống gậy tre, không khóc, không đội khăn. Ai hỏi, bà bảo bà ở trên núi, quen ông từ hồi ông còn bé.

Đuôi thứ chín của ta mọc vào mùa xuân năm sau. Nó mọc chậm, mất cả một mùa mới dài bằng tám cái kia. Chóp của nó có một khoang lông xanh sẫm, như ai nhúng vào thùng chàm, mà loài cáo đỏ núi Đồng Mây xưa nay chưa con nào có.

Lẽ ra có chín đuôi thì ta phải lên trời. Con cáo già núi Tản Mây đã đi từ lâu. Ta thì chưa đi. Mỗi năm, sáng ngày giỗ ông, trên mộ thầy đồ Lễ ở sườn đồi có một nắm lá thông xếp ngay ngắn, và một nắm xôi đã bị ai ăn mất một nửa.

— Hết —

Mục lục Món nợ một vạt áo chàm

  1. 1Cái bẫy ở khe Sậy6 phút đọc
  2. 2Bà hàng chè trên đèo Ba Dội5 phút đọc
  3. 3Ba roi mây6 phút đọc

Về truyện này

Món nợ một vạt áo chàm là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →