Chương 2: Thùng cá và hầm băng
Cá về phủ lúc trưa hôm trước tiệc. Hai thùng gỗ lớn, mỗi thùng chừng hai chục con cá thu lưng xanh, mỗi con dài gần một cánh tay, chở bằng xe ngựa từ cửa biển Hạ Phong cách kinh thành hai ngày đường.
Phủ Định Viễn hầu là phủ lớn. Ở kinh thành Bích Thủy, mùa đông có tuyết trên núi, các phủ lớn đều có hầm cất băng: người ta đục băng từ hồ trên núi về, chôn trong hầm đất lót trấu, mùa hè lấy ra dùng. Phủ chi tiền mua băng để ướp cá dọc đường, việc ấy do lão quản sự mua hàng tên Tề lo. Đó là điều tôi biết từ thằng Cu Sẻ, đứa nhóc rửa bát nhiều chuyện nhất dãy nhà bếp.
Hôm cá về, tôi là người mở thùng.
Ở lớp trên, cá còn ướp trong trấu ướt, sờ vào mát. Nhưng tôi nhớ rõ, rõ như nhớ mặt con, là khi thò tay xuống lớp dưới, trấu khô. Không có nước băng tan. Cá ở dưới không lạnh. Mắt cá còn trong, mang còn đỏ, không có mùi gì. Cá chết chưa lâu, nhưng nằm ấm.
Lúc đó tôi không nghĩ nhiều. Ở Sài Gòn, cá về nhà hàng nằm trong thùng xốp đầy đá vảy, tôi chưa bao giờ phải nghĩ xem đá đi đâu.
Ông Tào, bếp trưởng phủ, đã sáu mươi, lưng còng vì cúi trên bếp lò bốn chục năm. Ông dạy tôi, tức là dạy Đinh Ất, cách nướng cá thu theo kiểu phủ: khứa xiên, ướp muối hạt với lá sả đập dập và một thứ lá rừng thơm hăng mà ở đây gọi là lá mắc, bọc lá chuối, nướng trên than hoa cho tới khi lá cháy xém, mỡ cá rỉ ra xèo xèo. Món ấy hầu gia ăn mỗi năm một lần, đúng ngày mừng thọ. Tôi nhìn ông làm và nhận ra bàn tay mình, bàn tay của Lộc, đã biết cách xếp than, biết lúc nào lật cá, chỉ cần nhìn màu lá. Ít ra thì cái nghề vẫn đi theo tôi.
Thùng thứ nhất được ông Tào chọn ra nấu bữa tối cho người làm: cá kho với tương. Mười hai người ăn, không ai sao. Thùng thứ hai, thùng mà lớp dưới khô trấu, để dành cho tiệc hôm sau.
Đêm đó trời nóng. Bếp không còn băng. Tôi bảo Cu Sẻ đem cá xuống giếng, thả thùng vào nước cho mát. Cu Sẻ nói bà quản gia không cho, vì nước giếng để nấu canh. Thùng cá nằm trong góc bếp, cạnh lò than còn ấm, suốt đêm.
– Ngươi kể chuyện băng với trấu làm gì? – Quan xử án ngắt lời.
– Bẩm, vì thứ khiến các quan khách đỏ mặt không phải thứ con bỏ vào cá. Là thứ cá tự sinh ra khi nằm ấm quá lâu.
Tiếng cười rộ lên. Quan nghiệm độc lắc đầu.
– Cá ươn thì thối. Ai ăn cá thối mà không biết? Ba mươi bảy người khách ăn khen ngon.
Tôi biết ông ta sẽ nói câu ấy. Chính tôi năm hai mươi tuổi cũng đã nói câu ấy.
– Bẩm, loại cá này nằm ấm thì chưa thối đã sinh độc. Mắt vẫn trong, thịt vẫn chắc, ngửi không ra. Chỉ có một cách nhận ra: nếm. Nó làm tê lưỡi, cay như tiêu sống.
Viên quan xử án nhìn tôi rất lâu.
– Sao ngươi biết?
Đây là chỗ tôi phải chọn. Tôi có thể bịa ra một ông thầy dạy nghề ở quê nào đó. Tôi có thể nói đã nghe ngư dân kể. Không ai kiểm chứng được. Nhưng như thế thì vẫn còn câu hỏi: nếu biết, sao ngươi vẫn dọn cá lên?
– Vì lúc nướng mẻ đầu, con nếm một miếng. Lưỡi con tê.
Công đường im phăng phắc.
– Con thấy lạ. Con biết đó là dấu hiệu không lành. Nhưng tiệc đã sắp dọn, con sợ bị phạt, con tự dối mình là do lá ướp. Con dọn cá lên. Đó là lỗi của con.
Bà quản gia bước lên một bước, như mèo vồ chuột.
– Đấy, nó nhận rồi!
– Nó nhận nó nếm thấy tê. – Quan xử án quát. – Không phải nhận đầu độc. Im!
Ông ta quay sang tôi.
– Nói thì ai cũng nói được. Ngươi chứng minh thế nào?
— Hết chương 2 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không