Chương 3: Mười một giờ trưa
Thượng úy Khải ngồi xuống chõng lúc mười một giờ, đúng lúc bà Hằng, ông Lộc và cô Phượng đều có mặt, ba món đồ bày trên mặt chõng như một phiên chợ đồ cổ thu nhỏ. Bà Duyến đã gọi cả ba ra.
Khải nghe bà kể, nhìn cái bình vôi của bà Hằng, nhìn cái của bà Duyến, rồi lắc đầu.
– Bà ạ, bán đồ mà nói là đồ cổ, người mua tự nguyện, giá tám triệu, thì cháu chưa thể bảo là lừa đảo được. Phải có người xác định đó là đồ mới làm, phải có chứng cứ người bán cố tình nói sai để lấy tiền. Mà ông Quang kia thì có bán gì cho ai đâu.
– Ông Quang không bán. – Bà Duyến nói. – Ông ấy mua. Ông ấy mua bằng mồm, ở cái chõng này, trước mặt cả ngõ. Ba mươi triệu cho cái bình vôi của tôi. Ông ấy biết tôi không bán. Ông ấy cần tôi không bán.
Khải nhìn bà.
– Nếu tôi bán, thì ông ấy phải trả ba mươi triệu thật. – Bà nói tiếp. – Tôi không bán, thì ông ấy chẳng mất đồng nào, mà cả ngõ này tin bình vôi cũ đáng ba mươi triệu. Hai tuần sau, có một thằng bé hiền lành đến bán bình vôi tám triệu. Ai mà chẳng mua.
Ông Lộc ngách hai đặt cái điếu bát xuống chõng, mặt đỏ gay.
– Tôi gọi cho ông Quang rồi. – Ông nói. – Sáng nay. Tôi bảo tôi có cái điếu bát cổ, ông có mua không. Ông ấy bảo ông đang ở Hải Dương, tuần sau ông về xem, nếu đúng đồ cổ ông trả hai mươi triệu.
– Tuần sau. – Bà Duyến nhắc lại. – Đến tuần sau thì thằng Thành đã bán hết cái ngõ này, sang ngõ khác rồi.
Khải ngồi im một lúc. Rồi cậu xin cái danh thiếp của ông Quang, chụp ảnh từng món đồ, ghi tên từng người mua, số tiền, giờ mua. Cậu bảo cậu sẽ báo cáo lên trên, đề nghị trưng cầu người có chuyên môn xem mấy món đồ.
– Thế thì lâu. – Bà Duyến nói.
– Dạ, lâu ạ. Việc này phải làm đúng.
– Thế cháu cứ làm đúng. Bà làm nhanh.
Hai giờ chiều, khi Khải đã đi, bà Duyến bảo con Vân bấm số điện thoại trên danh thiếp, rồi cầm máy.
– Ông Quang đấy à? Tôi bà Duyến bán chè đầu ngõ Thổ Quan đây. Ông còn nhớ cái bình vôi không? Tôi nghĩ lại rồi. Cháu tôi sắp cưới, tôi cần tiền. Ông trả ba mươi triệu thì ông qua lấy. Hôm nay thôi nhé, mai có người khác hỏi rồi.
Đầu dây bên kia im một lúc lâu. Rồi giọng ông Quang vang lên, vẫn chậm và sang, nhưng chậm hơn hôm trước một nhịp.
– Dạ, cụ ơi, cháu đang ở Hải Dương. Tuần sau cháu về.
– Tuần sau thì tôi bán cho người khác. – Bà nói. – Có một cậu thanh niên trong ngõ cũng hỏi. Cậu Thành. Cậu ấy trả hai mươi lăm.
Đầu dây bên kia im lâu hơn nữa.
– Thôi, chiều nay bốn giờ cháu qua. – Cuối cùng ông Quang nói.
Bà Duyến cúp máy, đưa lại cho con Vân.
– Nhắn cho anh Khải. Bốn giờ. Bảo nó để ý cả thằng Thành, chiều nay nó còn đi bán ở ngách ba.
– Bà ơi. – Con Vân thì thào. – Thằng Thành có hỏi mua bình vôi của bà đâu.
– Không. – Bà nói. – Nhưng nếu ông ấy không quen thằng Thành, thì ông ấy hỏi Thành nào. Ông ấy không hỏi.
Bốn giờ kém năm, ông Quang đến, không đi ô tô mà đi xe ôm. Ông vẫn áo len cổ lọ, vẫn kính gọng đồi mồi, nhưng không ngồi xuống chõng. Ông đứng, rút ra một xấp tiền dày, đếm, đặt lên mặt chõng. Ba mươi triệu.
– Cụ đổi ý thì cháu mừng. – Ông nói. – Cháu xin cái bình.
Bà Duyến không động vào xấp tiền. Bà cầm cái bình vôi của mình lên, ôm vào lòng, rồi chỉ sang cái bình vôi của bà Hằng đang đặt ở đầu kia chõng.
– Ông xem giúp tôi cái này trước đã. Hàng xóm tôi mới mua. Bình vôi cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn. Ông trả bao nhiêu?
Ông Quang nhìn cái bình vôi của bà Hằng. Ông không cầm lên. Ông không gẩy móng tay vào miệng nó. Ông chỉ nhìn, chừng hai giây, như người ta nhìn một thứ đã thấy quá nhiều lần.
– Cái này cháu không mua. – Ông nói.
– Sao thế?
– Cái này đồ mới.
– Ông chưa cầm lên mà đã biết?
Ông Quang mở miệng, rồi ngậm lại. Bà Duyến chờ, cái bình vôi ôm trong lòng, như ngồi chờ khách trả tiền chè.
– Ông biết vì ông đã thấy nó rồi. – Bà nói. – Ông thấy nó ở chỗ người ta làm ra nó. Hai tuần trước ông lấy móng tay gẩy vôi ở miệng bình của tôi, ông gẩy bên phải, chỗ dày nhất. Người không biết thì gẩy chỗ nào cũng được. Ông biết vôi thật nó dày về phía nào, vì ông biết vôi giả nó đều cả hai bên.
Từ đầu ngách ba, Khải bước ra. Phía sau cậu là một đồng chí công an nữa, và giữa hai người là Thành, cái làn nhựa trong tay, áo khoác gió bạc màu, mặt cúi gằm. Khải đã mời cậu đứng lại hỏi chuyện ở ngách ba từ lúc hai rưỡi, khi cậu đang mời nhà ông Tiệp mua cái lọ hoa men lam với giá bốn triệu, nói rằng có một ông khách sành đồ cổ tên Quang từng trả cho món y hệt hai mươi triệu.
Chín giờ tối.
Chuyện sau đó, Khải kể lại vào buổi tối, lúc bà Duyến đang dọn hàng.
Ông Quang tên thật không phải Quang. Thành cũng không phải người Văn Giang, mẹ cậu cũng không nằm viện Bạch Mai. Hai người là cậu cháu, đi từ ngõ này sang ngõ khác ở Hà Nội đã gần một năm. Ông cậu đi trước, ngồi ở chỗ đông người nhất, quán nước, chõng chè, ghế đá công viên, chọn một món đồ cũ thật của ai đó, trả một cái giá thật to, biết chắc người ta không bán. Hai tuần sau, cậu cháu đến với cái làn nhựa. Đồ trong làn mua ở một lò gốm làm đồ giả cổ, mỗi món vài trăm nghìn, đánh men cho cũ, đắp vôi trộn keo quanh miệng cho giống đồ dùng lâu năm. Lò ấy làm đồ để bán làm đồ trang trí, ghi rõ là đồ mới. Cái sai là ở chỗ người ta mang nó đi bán làm đồ cổ, kèm một câu chuyện về bà cố và người mẹ nằm viện.
Cơ quan công an đang tiếp tục xác minh, đã có thêm chín ngõ khác ở ba phường cũ trình báo.
Bà Hằng ngồi trên chõng, cái bình vôi tám triệu đặt trong lòng, mắt đỏ hoe.
– Tôi cứ tưởng tôi trúng được món hời. – Bà nói. – Bốn mươi năm bóc tỏi thuê, tôi chưa trúng cái gì bao giờ.
Bà Duyến rót cho bà Hằng chén chè cuối cùng trong ấm, rồi cầm cái bình vôi của bà Hằng lên, xoay dưới ánh đèn tuýp.
– Men đẹp đấy chứ. – Bà nói. – Quai cũng chắc.
– Đồ giả, đẹp làm gì.
Bà Duyến lấy cái que tre của mình, cạo một lượt quanh miệng cái bình vôi giả. Lớp vôi trộn keo bong ra từng mảng, rơi lả tả xuống mặt chõng, để lộ cái miệng bình to bằng cái chén, nhẵn, mới, trắng như chưa từng có ai chạm vào.
Bà lấy lọ vôi của mình, quệt một que vôi tươi, quệt vào mép miệng bình, phía bên phải.
– Đồ giả là vì người ta nói dối về nó. – Bà nói. – Còn cái bình thì có nói dối ai đâu. Bà mang về mà dùng. Mỗi sáng quệt một que. Năm mươi năm nữa, miệng nó hẹp lại, thì nó là bình vôi cổ thật, của nhà bà.
Bà Hằng nhìn cái bình vôi một lúc, rồi phì cười, cái cười méo xệch của người vừa mất tám triệu.
– Năm mươi năm nữa tôi còn đâu mà xem.
– Thì cái Vân xem. – Bà Duyến chỉ cháu gái đang lau chén. – Rồi đến lúc nó kín miệng, cái Vân mang ra gốc đa đầu đình mà đặt, cạnh cái của tôi.
Con Vân ngẩng lên, định nói gì đó, rồi thôi. Bà Duyến đặt cái bình vôi của mình vào cái làn mây, phủ khăn lên, như mọi tối. Cái miệng bình chỉ còn lọt một đầu ngón tay, lớp vôi bên phải dày, cong vào trong như một cái môi đã khép gần hết, giữ lại năm mươi tư năm chuyện của cái ngõ này mà không nói ra câu nào.
— Hết —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe