Chương 3: Biên bản số bảy và biên bản cuối
Biên bản số bảy, chiều thứ Năm, bốn giờ năm phút, trước cửa một lò bánh mì nhỏ trên đường Nguyễn Sinh Sắc. Mùi bánh mới ra lò bay ra tận vỉa hè. Bố Mạnh Còi đậu xe máy dưới gốc phượng bên kia đường, giả vờ đọc báo.
Cô giao bánh sáng thứ Tư đang lấy bánh ra khỏi lò. Cô nhận ra tụi tui ngay.
– Ủa, ba đứa điều tra đây răng?
Mạnh Còi trình bày vụ việc từ đầu tới cuối, có tham khảo sổ biên bản. Tui đứng giở trang cho cậu ta. Cô nghe tới chỗ cái bảng mười bốn buổi sáng thì ngửa cổ cười, rồi gọi vô trong nhà:
– Ông ơi, con mèo của ông có chủ rồi nì!
Từ trong nhà, ông Thanh chống tay vô lưng bước ra, đi chậm như người vừa ngồi dậy sau giấc ngủ trưa dài. Theo sau ông là một thằng bé chừng ba tuổi, mặc quần đùi, ôm trong tay một con mèo vàng to đùng có cái đuôi gãy chóp. Con mèo nằm vắt vẻo trong vòng tay đứa nhỏ, chân thõng xuống, mắt lim dim, bộ dạng của một con mèo không hề thấy mình đang mất tích.
– Bánh Đa! – Xuyến hét lên.
Con mèo mở một mắt. Rồi nhắm lại.
– Tên hắn là Vừng – thằng bé nói, ôm chặt hơn. – Hắn là Vừng.
Ông Thanh ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh lò, kể. Ông nói con mèo này đi theo xe ông cả năm nay rồi, đuổi xuống đạp đi một đoạn quay lại đã thấy nó nằm trên bạt. Về tới lò, nó xuống, đi một vòng quanh lò, ăn mấy hạt vừng rơi trên mâm bánh, nằm phơi bụng trước cửa lò cho tới chuyến giao thứ hai lúc chín giờ rưỡi, rồi nhảy lên xe về trường. Sau quen, ông để dành cho nó một miếng ruột bánh.
– Thứ Hai ông đau lưng, nằm luôn – ông nói. – Hắn nằm trước lò chờ chuyến chín rưỡi, không thấy xe chạy. Chờ tới chiều. Rồi thằng chắt ông ra ôm. Từ đó tới chừ hai đứa không rời nhau.
Thằng bé ôm con mèo, nhìn tụi tui bằng ánh mắt của người sắp bị cướp mất tài sản lớn nhất đời.
Tui ghi vào biên bản: tình huống phức tạp phát sinh.
Mạnh Còi gãi đầu, lần đầu tiên không biết nói gì. Xuyến ngồi xổm xuống trước mặt thằng bé, nói bằng cái giọng nhỏ nhẹ mà tui chưa nghe Xuyến dùng ở lớp bao giờ. Xuyến nói con mèo này có hai cái tên và hai cái nhà. Mai trường có khách quan trọng, cả trường cần Bánh Đa về. Nhưng nó vẫn đi xe ra thăm em ba buổi một tuần như cũ, nếu ông Thanh đỡ đau lưng.
– Ông ơi, ông đỡ đau lưng chưa? – thằng bé hỏi.
Ông Thanh nói mai ông chưa đạp xe được, nhưng thứ Hai tuần sau thì chắc được.
Thằng bé nghĩ rất lâu. Rồi đưa con mèo cho Xuyến, nhưng không buông tay ra, nên Xuyến phải ôm cả con mèo lẫn hai cánh tay của nó một lúc.
Cuối cùng là bố Mạnh Còi giải quyết vấn đề vận chuyển. Bánh Đa đi về trường trong một cái thùng các-tông đựng bánh mì, có khoét lỗ thở, đặt trên yên sau xe máy, Mạnh Còi ngồi giữ. Nó kêu suốt bốn cây số, kêu to tới mức một bà đứng đợi đèn đỏ ở ngã tư Lê Lợi quay sang hỏi có phải chở em bé không.
Bác Kiên mở cổng cho tụi tui lúc năm giờ bốn mươi chiều. Bác nhìn cái thùng các-tông, nghe tiếng kêu, rồi quay mặt đi chỗ khác một lúc lâu. Tui ghi lại sự việc. Tui không ghi bác làm gì với cái mặt bác, vì làm thư ký thì phải tôn trọng quyền riêng tư của nhân chứng.
Bác Kiên đem thùng vô phòng bảo vệ, mở ra. Bánh Đa nhảy phốc lên nóc tủ hồ sơ, nằm xuống, liếm chân như chưa có chuyện gì. Trên mặt bàn bác Kiên có một chồng giấy A4. Mạnh Còi cầm lên xem. Đó là ba mươi tờ giấy viết tay, chữ to, cùng một nội dung: "Tìm mèo vàng tên Bánh Đa, đuôi gãy chóp, ai thấy báo bảo vệ trường Lam Hồng, có hậu tạ." Bên dưới là số điện thoại của bác.
– Bác viết đó hả bác?
– Viết chơi – bác Kiên nói. – Định mai đi dán.
Tui gạch tên bác Kiên khỏi danh sách nghi phạm. Lần này gạch đậm.
Biên bản cuối, sáng thứ Sáu.
Đoàn kiểm tra của sở tới lúc tám giờ. Có bốn người, đi đầu là một bà mặc áo dài màu kem, tóc búi, đeo kính gọng vàng. Cô Hường đi bên cạnh, cầm tập hồ sơ dày. Cả trường im phăng phắc. Bánh Đa được bác Kiên nhốt trong phòng bảo vệ từ sáu giờ sáng, với một đĩa cá nục kho và lời hứa chiều được thả.
Chín giờ hai mươi, đoàn đi tới căng tin. Đúng lúc đó, cửa phòng bảo vệ, không ai biết vì sao, mở ra một khe. Tui khẳng định là không phải Đội Điều Tra mở. Tui khẳng định thêm là có thể Tuấn Bột lớp 6A đã mở, nhưng chưa đủ chứng cứ.
Bánh Đa đi thẳng một mạch qua sân, đuôi dựng đứng, nhảy lên cái thùng bánh đa vừng phơi nắng trước căng tin, nằm xuống, phơi bụng.
Cô Hường đứng sững. Mặt cô đỏ lên, rồi trắng ra. Cô quay sang bà trưởng đoàn, miệng mở ra để xin lỗi.
Nhưng bà trưởng đoàn đã bước tới chỗ cái thùng. Bà cúi xuống, gãi cằm Bánh Đa. Bánh Đa rên khò khò như máy xay lúa.
– Trường mình nuôi mèo à? – bà hỏi. – Mèo đực vàng thế này bắt chuột giỏi lắm. Nhà tôi cũng có một con, mười một tuổi rồi.
Cô Hường mở miệng, rồi đóng lại, rồi mở ra, rồi nói:
– Dạ, mèo của trường. Bắt chuột... rất giỏi. Còn bắt được cả thằn lằn.
Rồi cô Hường hắt xì một cái rất to. Rồi cái nữa. Rồi cái nữa.
Chiều thứ Sáu, Đội Điều Tra 7C nhận được thông tin mới, do cô Lài căng tin cung cấp: cô Hường không ghét mèo. Cô Hường bị dị ứng lông mèo, nặng tới mức hồi cô đi họp phụ huynh nhà ai có mèo về là sưng mắt ba ngày. Sáng thứ Hai, cô nói Bánh Đa phải biến trước thứ Sáu là vì cô sợ phải dẫn đoàn đi qua căng tin, mà căng tin là chỗ Bánh Đa nằm nhiều nhất.
Mạnh Còi đề nghị đưa ra kiến nghị chính thức lên ban giám hiệu. Kiến nghị gồm hai điểm. Một, giữ Bánh Đa ở lại trường. Hai, Bánh Đa không được vào phòng hiệu phó và không được đặt thằn lằn lên giáo án của bất kỳ ai. Kiến nghị được thầy hiệu trưởng duyệt lúc hai giờ chiều, có chữ ký.
Phụ lục: sáng thứ Hai tuần sau, ông Thanh đạp ba gác tới lúc sáu giờ mười lăm, lưng thẳng hơn tuần trước, trên tấm bạt xanh có ngồi một thằng bé ba tuổi đội mũ len. Bánh Đa nhảy lên nằm cạnh nó. Hai đứa đi ra lò, chín giờ rưỡi về.
Hồ sơ vụ án khép lại. Đội Điều Tra 7C tạm nghỉ, cho tới khi trường có chuyện gì đó mất tích tiếp theo. Thư ký ký tên: Phan Nguyệt Quế.
— Hết —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám