Chương 1: Sương ở dốc Hoa Lư
Tui sơn xe ba mươi tám năm, chưa lần nào công an tới xưởng mà không phải để sơn xe.
Bữa đó là thứ Năm. Tám giờ sáng, nắng Pleiku mới lên tới mái tôn, tui đang pha một mẻ màu xanh rêu cho chiếc xe bán tải của ông chủ rẫy cà phê thì hai cậu công an mặc thường phục bước vô. Một cậu đưa tui coi giấy tờ. Cậu kia đi thẳng tới chiếc xe gầm cao màu trắng đậu trong góc, chiếc xe của cậu Lý Gia Viên, con ông chủ khách sạn bên đường Trần Hưng Đạo. Cái cản trước của nó tui vừa sơn xong hôm qua, còn dán băng keo giấy ở mép đèn.
– Chú Sến, xe này ai đưa tới, bữa nào?
– Cậu Viên đưa tới sáng thứ Ba. Cản trước móp một miếng, trầy sơn, cậu nói đánh lái lùi vô bãi giữ xe đụng cột.
– Sáng thứ Ba mấy giờ?
– Tám giờ. Như bữa nay.
Hai cậu nhìn nhau. Rồi một cậu nói với tui, giọng không gắt nhưng cũng không mềm:
– Sáng thứ Ba, năm giờ mười phút, ở dốc đường Hoa Lư, một chiếc xe màu trắng tông chị bán xôi rồi bỏ chạy. Chị ấy gãy chân, chấn thương đầu, đang nằm ở bệnh viện tỉnh. Có người làm chứng nói thấy xe gầm cao màu trắng, giống xe cậu Viên. Ba tiếng sau, xe cậu Viên vô xưởng chú, sơn lại cản trước. Chú hiểu ý tụi cháu không?
Tui hiểu. Tui đứng giữa xưởng, cái que khuấy sơn còn cầm trên tay, nhỏ từng giọt xanh rêu xuống nền xi măng.
Chị bán xôi đó tên Lài. Tui biết chị. Ai sống ở mấy con dốc phía bắc Pleiku cũng biết chị. Năm giờ sáng nào chị cũng đạp chiếc xe đạp chở cái thúng xôi bọc vải mùng, đi dọc đường, rao: xôi đậu xanh, xôi bắp đây. Xôi chị nấu bằng nếp nương, có rắc muối mè rang, mười lăm ngàn một gói. Mỗi sáng thứ Hai, tui mua hai gói, một gói cho tui, một gói cho thằng phụ việc.
– Tui không biết gì hết. – Tui nói. – Tui chỉ sơn.
– Tụi cháu không nói chú biết. Nhưng chiếc xe này phải giữ lại.
Họ niêm phong chiếc xe. Họ hỏi tui sơn bằng gì, chà nhám tới lớp nào, cái cản cũ có vết gì, tui có chụp ảnh không. Tui không chụp ảnh. Ba mươi tám năm, tui chưa bao giờ chụp ảnh một cái cản xe trầy. Cái cản móp thì tui gò, lớp sơn trầy thì tui chà, rồi tui sơn lại cho nó đẹp. Vậy thôi.
Mà đẹp thiệt. Cái cản trước của chiếc xe trắng đó, ai nhìn cũng không biết đã từng móp. Nhất là cái màu.
Tui phải nói chuyện cái màu.
Xe trắng ra khỏi xưởng Ba Sến, đứng dưới nắng trưa Tây Nguyên, có một ánh rất riêng, không giống trắng của hãng, không giống trắng của thợ khác. Nó ngà ngà, ấm ấm, như ngà voi người ta chạm. Tui làm vậy là có cách. Pha màu trắng nào, tui cũng rắc thêm một nhúm bột ngọc trai ánh vàng, thứ bột tui đặt mua riêng của một tiệm ở Chợ Lớn mấy chục năm nay, mỗi lần một ký. Một nhúm nhỏ thôi, bằng đầu đũa, cho nguyên một lít sơn. Nhìn gần không thấy. Đứng xa, dưới nắng, mới thấy ánh vàng lấp lánh trong lớp trắng. Ông chủ tiệm bột ở Chợ Lớn nói cả Tây Nguyên chỉ có mình tui mua thứ đó. Khách quen gọi là trắng ngà Ba Sến. Tui cũng tự hào với cái màu đó như người ta tự hào đứa con.
Mà bữa nay, chính cái màu đó, tui vừa sơn lên một cái cản xe có thể đã tông người.
Chiều đó, tui đóng cửa xưởng sớm, chạy xe máy lên bệnh viện tỉnh. Chị Lài nằm ở phòng sáu người, chân bó bột tới đùi, đầu quấn băng trắng. Thằng con trai chị ngồi bên, học lớp mười một, mặt đen sạm, mắt đỏ.
– Chú Sến, – chị Lài nói, giọng yếu, – chú tới chi vậy chú?
Tui không biết nói gì. Tui đặt bịch cam lên đầu giường.
– Chị có thấy cái xe không?
– Sương mù quá chú ơi. Tui chỉ thấy đèn. Đèn trắng chói, rồi cái gì đó đập vô cái thúng, rồi tui nằm dưới mương. Tui nghe máy xe rú lên rồi đi mất. Rồi có ông nào chạy tới, kêu xe cấp cứu.
– Ông nào?
Thằng con chị trả lời thay:
– Ông Dũng chủ xưởng rang cà phê dưới chân dốc, chú. Ông là người gọi cấp cứu, rồi ông khai với công an là thấy xe trắng gầm cao giống xe anh Viên. Mẹ con nhờ ông mới sống.
Tui gật đầu. Ông Kha Tấn Dũng tui có biết. Cái xưởng rang cà phê của ông nằm cách chỗ chị Lài bị tông chừng ba trăm thước, sáng nào cũng bốc khói thơm nức cả con dốc. Ông là người tử tế, có tiếng. Năm ngoái nước lũ ở mấy làng dưới, ông chở cả xe tải gạo đi phát.
Trên đường về, tui ghé xưởng rang của ông Dũng. Không có lý do gì, chỉ là tui muốn nghe người tận mắt thấy kể lại. Khói rang cà phê bốc lên từ ống khói tôn, thơm mùi bơ cháy. Mấy cô công nhân ngồi lựa hạt trên nong tre dưới mái hiên. Ông Dũng từ trong kho bước ra, áo thun dính bụi cà phê, bắt tay tui bằng cả hai tay.
– Ông Sến! Lâu quá. Vô uống ly cà phê mới rang.
Ông kể lại sáng thứ Ba, giọng còn run. Ông nói ông ra mở cửa xưởng lúc năm giờ, nghe tiếng rầm, chạy lên dốc thì thấy chị Lài nằm dưới mương, cái thúng xôi văng ra giữa đường, xôi đổ trắng mặt nhựa. Ông thấy cái đuôi xe trắng gầm cao vọt lên đầu dốc, mất vô sương.
– Thằng nhỏ con ông chủ khách sạn đó, sáng nào cũng rú ga ngang đây. – Ông nói. – Tui không dám chắc trăm phần trăm, sương dày quá. Nhưng tui nói những gì tui thấy.
Ông rót cà phê cho tui, tay hơi run, làm sánh ra mặt bàn. Ông lau bằng cái khăn vắt vai, rồi cười, nói già rồi, mấy bữa nay không ngủ được.
Lúc ra về, tui đi ngang cái sân sau xưởng. Chiếc bán tải trắng của ông đậu ở đó, đầu xe quay vô vách kho, mới rửa, còn nhỏ nước. Nắng chiều chiếu xiên, cái thùng xe ánh lên một màu ngà ngà ấm ấm. Tui đứng lại nhìn một chút, như người ta đứng nhìn đứa con mình đã gả đi xa. Ba năm rồi mà màu vẫn đẹp. Tui nghĩ vậy, rồi đề máy chạy về, không nghĩ gì thêm.
Tối đó tui không ngủ được. Tui nằm trên cái võng mắc sau xưởng, nghe gió hú qua mấy hàng thông, nghĩ hoài về cái nhúm bột ngọc trai.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám