Chương 2: Ông Khiển, trực đêm
Tôi làm ở nhà tang lễ này hai mươi hai năm. Trước đó tôi lái xe tang. Ca đêm ở đây không có gì nhiều. Một bàn trực ở đầu hành lang, một cái màn hình chia bốn ô cho bốn camera, một ấm trà, một cái đài bán dẫn tôi mở nhỏ nghe tiếng người cho đỡ vắng. Tiếng máy lạnh của các phòng chờ chạy rì rì suốt đêm, đều như tiếng thở. Cứ hai tiếng tôi đi một vòng, kiểm tra khoá cửa, kiểm tra nhiệt độ. Người ta hỏi tôi có sợ không. Tôi bảo người nằm trong này là người đã xong việc, chẳng ai làm hại ai. Người đáng lo là người còn sống đứng ngoài cổng. Tôi đã thấy nhiều người khóc theo nhiều kiểu, nhưng chưa bao giờ thấy một ông già tám mươi tám tuổi đứng ngoài cổng lúc một giờ sáng, giữa tháng Mười Một, mặc bộ com-lê cũ là phẳng, tay cầm một bông hoa.
Cổng chính đóng từ mười một giờ. Ông ta đứng ở cổng phụ, chỗ có cái chuông. Ông ta không bấm chuông. Ông ta chỉ đứng đó. Tôi thấy ông ta qua màn hình camera cổng, đứng bất động suốt mười lăm phút, sương rơi ướt hai vai áo. Tôi sợ ông ta ngã ra đó, nên tôi ra.
– Cụ tìm ai ạ?
– Tôi tìm bà Nhung. Đỗ Thị Nhung. – Giọng ông ta rõ ràng, phát âm kiểu người Hà Nội cũ, chữ nào ra chữ ấy. – Tôi không phải người nhà. Tôi biết sáng mai tôi không vào được. Tôi chỉ xin anh mười lăm phút.
Tôi nói với ông ta những điều tôi phải nói. Quy định. Người nhà. Phòng đã khoá. Ông ta nghe hết, gật đầu, không cãi một lời. Rồi ông ta móc trong túi áo ra một cái hộp nhựa nhỏ màu đỏ đã bạc, mở ra. Trong đó là một thỏi son. Cái vỏ son bằng đồng, mòn vẹt, loại người ta không còn bán từ trước khi tôi ra đời.
– Năm một nghìn chín trăm sáu mươi, tôi đi học ở nước ngoài. Bà ấy ra ga tiễn tôi. Bà ấy mười tám tuổi, tô màu son này. Tôi xin bà ấy thỏi son, bảo là để giữ làm kỷ niệm. Tôi định về thì trả. – Ông ta nhìn thỏi son. – Tôi về muộn. Muộn mười một năm. Lúc ấy bà ấy đã có chồng, có con gái lên sáu.
Tôi đứng ở cổng, gió lùa qua khe.
– Năm năm trước, tôi gặp lại bà ấy ở bờ hồ Thiền Quang. Bà ấy tập dưỡng sinh, tôi đi dạo. Cả hai đều góa. Thứ năm nào chúng tôi cũng ngồi một ghế đá, hai tiếng, nói chuyện. Tôi mua cho bà ấy một bông ngọc lan. Bà ấy không cho tôi đến nhà. Bà ấy bảo con gái bà ấy thương bố nó lắm, không nên làm nó buồn lúc tuổi già.
Ông ta đóng hộp son lại.
– Thứ năm tuần này bà ấy không ra. Tôi gọi điện, không ai nghe. Chiều nay tôi đọc thấy cáo phó trên báo.
Tôi biết tôi sai. Tôi biết nếu chuyện này lộ ra, tôi mất việc, và tôi đáng mất việc. Nhưng tôi đã nhìn ông già ấy đứng ngoài cổng mười lăm phút trong sương, không bấm chuông, vì ông ấy biết mình không có quyền bấm.
Tôi tắt camera hành lang. Tôi dẫn ông ta vào phòng ba. Tôi mở đèn bàn nhỏ ở góc, không bật đèn trần.
Ông ta đứng nhìn bà cụ rất lâu. Rồi ông ta nói, rất khẽ, như nói với một người đang ngủ: "Nhung ơi, cái màu này không phải màu của em."
Ông ta xin tôi mở nắp kính. Tay ông ta run, run dữ dội, cái bệnh của người già, cầm thỏi son không vững. Tôi đứng cầm đèn pin soi cho ông. Ông lấy khăn mùi soa thấm nhẹ màu đỏ mận đi, từng chút, cẩn thận như lau một bức tranh. Rồi ông tô. Ba lần ông phải dừng lại vì tay run quá. Khóe môi bên trái bị lệch, ông nhìn nó rồi lắc đầu, để nguyên. "Bà ấy cũng tô lệch bên này. Hồi ấy bà ấy thuận tay trái, cô giáo bắt viết tay phải, nên cái gì cũng lệch về bên trái một chút."
Cuối cùng, ông cài bông ngọc lan lên búi tóc bà cụ. Ông nói bông hoa này ông hái từ cây ngọc lan trong sân nhà ông lúc nửa đêm, cây ông trồng năm sáu mươi tư, năm ông còn ở nước ngoài, nhờ em gái trồng hộ. Năm năm nay, bông ngọc lan nào bà cụ mang về trong túi áo cũng là hoa của cây ấy.
Ông ở lại mười lăm phút, đúng như ông xin. Không hơn một phút. Lúc ra cổng, ông bắt tay tôi, bàn tay lạnh như đá.
– Sáng mai người ta sẽ hỏi anh. Anh cứ nói thật. Tôi tên Duyệt. Tạ Quang Duyệt. Tôi ở số mười bảy phố Lò Đúc, ai muốn tìm tôi thì tìm.
Sáng ra, cô Vi hỏi tôi. Tôi nói dối cô ấy. Tôi chưa kịp nghĩ ra cách nói thật thế nào cho đúng.
Rồi bà Liên đánh rơi bó huệ.
— Hết chương 2 —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị