Chương 1: Thư thách đấu tới đúng hôm nồi cơm khê
Thư thách đấu của Thiết Quyền phái tới đúng hôm nồi cơm của tui khê. Bốn mươi năm nấu cơm cho phái Hạc Sơn, tui làm khê có ba lần, lần nào cũng có chuyện. Lần đầu là năm sư tổ mất. Lần thứ hai là năm lũ cuốn sập nửa dãy nhà Tây. Lần này là thằng nhỏ đưa thư. Nó leo ba trăm bậc đá lên tới cổng, thở như bò kéo cày, đứng ngay ngoài bếp kêu "có ai không". Tui chạy ra. Nồi cơm ở trong cháy đen một lớp dày hai ngón tay.
Tui tên Thước, Mạch Văn Thước, sáu mươi tuổi, không biết võ. Tui lên núi Ngọc Lăng năm hai mươi tuổi, theo bà cô vô nấu bếp cho phái. Hồi đó phái Hạc Sơn có hai trăm đệ tử, ba dãy nhà ngói, sáng nào cũng có cả sân áo trắng đi quyền, tiếng hô vang xuống tới chợ Gò Mít dưới chân núi. Tui nấu một ngày ba nồi cơm lớn, nồi nào cũng phải hai người khiêng.
Giờ thì một nồi nhỏ, ba người ăn.
Người thứ nhất là chưởng môn Lam Tịnh Phong, tám mươi ba tuổi. Ông còn đi đứng được, còn tự gánh được hai thùng nước nửa vơi, nhưng trí nhớ thì như cái rổ thưa. Sáng hỏi tui ăn chưa, trưa hỏi lại, chiều hỏi nữa. Có bữa ông kêu tui bằng tên sư huynh của ông đã chết từ ba chục năm trước.
Người thứ hai là con Tiêu, Kiều Thị Tiêu, mười sáu tuổi, con bà góa bán mật ong dưới chợ. Nó lên núi năm mười tuổi, đòi học võ, chưởng môn nhận. Sáu năm nay nó là đệ tử duy nhất. Nó học gì thì học, chủ yếu là gánh nước, chẻ củi, quét sân, phơi thuốc nam đem xuống chợ bán đổi gạo.
Người thứ ba là tui.
Tui cầm lá thư vô đưa cho chưởng môn. Ông đeo kính, đọc, rồi đưa lại cho tui đọc to. Mắt ông giờ chỉ thấy chữ lớn.
"Thiết Quyền phái, chưởng môn Hồng Bá Lực, kính thư phái Hạc Sơn. Giang hồ có lệ: môn phái không còn người giữ, thì môn phái khác lên thỉnh bảng hiệu về treo, để người đời biết danh phận đã sang tay. Mười ngày nữa, Thiết Quyền phái lên núi Ngọc Lăng thỉnh bảng. Chủ nhà nếu không phục, xin ra ba trận, theo lệ chủ nhà ra đề."
Đọc xong tui ngước lên. Chưởng môn đang nhìn ra ngoài cửa sổ, chỗ có con chim chích bông đậu trên nhánh khế.
– Lực nào? – ông hỏi.
– Hồng Bá Lực. Thiết Quyền phái dưới phủ. Ông không nhớ hả? Hai chục năm nay người ta đồn hắn đánh khắp mười hai võ đường trong phủ, thỉnh bảng bảy nơi rồi.
– Không nhớ. – Ông lắc đầu. – Con chim chích bông năm nay làm tổ sớm quá.
Tui muốn bứt tóc.
Tấm bảng hiệu phái Hạc Sơn treo trên cổng chính, gỗ mít già sơn son, hai chữ "Hạc Sơn" khắc sâu, thếp vàng đã bong gần hết. Nghe nói sư tổ khắc tay từ hơn trăm năm trước. Chiều nào tui cũng lấy giẻ lau nó một lần, thói quen bốn mươi năm. Tui không biết võ, nhưng tui biết, cái bảng mà người ta hạ xuống rồi đem đi, thì cái phái này hết. Không còn ai lên núi xin học nữa. Con Tiêu cũng sẽ phải xuống.
Tối đó tui nói với con Tiêu. Nó đang ngồi chuốt mây đan rổ, nghe xong thì nó quăng cái rổ đứng dậy.
– Thì con đánh! Con đánh ba trận luôn!
– Mày đánh với ai? Mày biết đánh cái gì? Mày biết gánh nước.
– Con biết bài Hạc Sơn quyền.
– Mày biết tới thế thứ mấy?
Nó im. Chưởng môn dạy nó bài quyền sáu năm mà ông quên giữa chừng hoài, thế thứ chín dạy tới ba kiểu khác nhau. Con nhỏ học được bao nhiêu thì đi được bấy nhiêu, đi tới đâu là ông ngồi ngủ gục tới đó.
Tui ngồi một mình ngoài hiên tới khuya, nhìn tấm bảng hiệu đen thui dưới trăng. Tui nghĩ đi nghĩ lại cái chữ trong thư: theo lệ chủ nhà ra đề.
Ra đề. Tui không biết võ. Nhưng tui biết cái núi này. Bốn mươi năm, tui biết mỗi bậc đá, mỗi cái giếng, mỗi cây củi.
Gần sáng thì tui nghĩ ra.
Mười ngày sau đó, tui với con Tiêu làm như người sắp đón khách quý. Nhổ cỏ ba trăm bậc đá. Quét lá thông trong sân. Vá mấy chỗ hàng rào tre. Sáng nào tui cũng chẻ củi sớm hơn thường lệ một canh, chẻ cho tay quen lại cái nhịp hồi còn trẻ. Con Tiêu gánh nước mỗi ngày hai chục chuyến thay vì mười, tối về nằm vật ra hiên, vai sưng đỏ, không than một tiếng.
Chưởng môn thì vẫn vậy. Sáng ngồi nhìn chim, trưa phơi thuốc, chiều ngủ gục trên ghế tre. Tui kể ông nghe kế hoạch ra đề, ông gật gật, rồi hỏi tui Thiết Quyền phái là phái nào.
Đêm thứ tám, tui thức dậy đi tiểu, thấy ông đứng một mình ngoài cổng, dưới tấm bảng hiệu. Trăng hạ tuần mờ mờ. Ông giơ tay lên, không phải lau, mà vuốt nhẹ cạnh dưới tấm gỗ, như người ta vuốt lưng một con trâu già.
– Thầy ra đây chi giờ này? – tui hỏi.
Ông không quay lại.
– Thước, năm nay là năm gì?
– Bính Ngọ, thầy.
Ông lẩm nhẩm đếm trên đầu ngón tay, rồi gật đầu.
– Ba mươi sáu năm, – ông nói. – Lâu ghê.
Tui tưởng ông lại lẫn, đếm tuổi ai đó đã chết. Tui dìu ông vô nhà, đắp mền cho ông, đi ngủ lại. Sáng ra ông hỏi tui hôm qua ăn cơm chưa.
— Hết chương 1 —
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe