Chương 1: Cái mâm thứ ba
– Thằng Tâm ngồi mâm dưới kia, mâm này để các cụ với mấy chú bàn việc.
Chú Út tôi nói câu đó khi tôi vừa cởi cái áo khoác còn ướt sương, tay xách hai cân giò mua ở chợ Viềng sáng sớm. Không ai cười. Cũng không ai bảo chú nói thế là quá. Bác Hai gắp một miếng thịt gà đặt vào bát chú, coi như câu chuyện chưa từng xảy ra.
Tôi xuống mâm thứ ba, ngồi với đám trẻ con và mấy bà cô đang bóc lạc. Mâm thứ ba ở nhà thờ họ Phạm làng Hành Thiện bao giờ cũng kê sát bậc cửa, gió lùa vào lưng. Hồi ông nội tôi còn sống, tôi ngồi mâm trên, cạnh ông, vì tôi là cháu đích tôn, con trai của con trai trưởng. Bố tôi mất năm tôi mười bốn tuổi. Ông mất năm tôi hai mươi sáu. Từ đó tôi xuống mâm dưới, mỗi năm xuống thêm một bậc, giờ thì sát cửa.
Lý do thì ai cũng biết mà không ai nói. Tôi làm thợ điện thuê ở Hà Nội, ở trọ dưới chân cầu Vĩnh Tuy, ba mươi hai tuổi chưa vợ, Tết về quê đi xe khách chứ không đi ô tô riêng. Chú Út thì khác. Chú mở xưởng mộc ở Nam Định, nhà ba tầng, con gái học bên Úc. Họ Phạm ba chi, bốn mươi mấy suất đinh, giờ việc gì cũng chờ chú gật.
Hôm ấy là ngày họp họ đầu năm. Cơm xong, chú Út gõ đũa vào thành bát.
– Các cụ, các bác, các anh. Việc em nói hôm nay là việc lớn, em nói thẳng. Mảnh vườn quanh nhà thờ ta rộng hơn tám trăm mét, trồng mấy cây nhãn già, mỗi năm được mấy chục cân, chẳng ai ăn. Nhà thờ thì dột, mái ngói hỏng, cột kèo mọt. Em có người mua phần vườn phía đông, ba trăm năm mươi mét, giá tốt. Bán đi, lấy tiền đại tu nhà thờ, còn dư thì lập quỹ khuyến học cho con cháu. Cả họ được tiếng.
Bác Hai gật trước. Rồi chú Ba bên chi hai. Rồi mấy ông ngồi mâm trên lần lượt gật, như người ta gật khi nghe giá một con gà.
– Sổ đỏ đứng tên ai hở chú? – Tôi hỏi từ mâm dưới.
Cả gian nhà thờ quay lại nhìn tôi. Chú Út cười.
– Đứng tên ông nội mày. Ông mất rồi thì con cháu thừa kế. Bố mày mất trước ông, nên phần ấy chia cho các con còn sống của ông. Mày hỏi thế làm gì, mày định đòi chia à?
Mấy bà cô bên cạnh tôi khúc khích. Bà cô Thắm, em họ của bố tôi, khẽ đẩy cái đĩa lạc về phía tôi, như bảo thôi, ăn đi, đừng nói nữa.
– Cháu không đòi gì. Cháu chỉ hỏi.
– Thế thì hỏi xong rồi. – Chú quay lên. – Bên mua đã đặt cọc rồi các bác ạ. Em nhận ba trăm triệu, giấy tờ em giữ. Ra giêng là đi công chứng. Em chỉ cần các chi ký cho một cái biên bản đồng thuận, cho đúng thủ tục.
Tôi ngồi im. Trong đầu tôi là cái hòm sắt sơn xanh mà ông nội để dưới gầm giường, khóa bằng cái khóa đồng to như bàn tay. Năm ông ốm nặng, ông gọi tôi vào, bảo tôi lấy cái hòm ra, mở cho ông xem. Ông giở từng tờ giấy, ngón tay run, rồi đặt lên trên cùng một tờ giấy pơ-luya đã ngả vàng, có đóng dấu đỏ của xã.
– Đất này không phải của ông đâu, Tâm ạ. – Ông nói. – Ông chỉ đứng ra làm người đại diện. Mày nhớ lấy.
Lúc đó tôi hai mươi lăm tuổi, đang lo trả tiền học nghề, tôi gật đầu cho ông yên lòng. Tôi không hiểu hết câu ông nói.
Sau đám tang ông, cái hòm ấy về tay chú Út. Chú bảo để bên chú cho cẩn thận.
Chiều hôm họp họ, tôi đi bộ ra phía sau nhà thờ, đứng dưới gốc nhãn già nhất. Ông nội từng kể cây nhãn này cụ tổ trồng năm làng có trận lụt lớn, gốc to hai người ôm. Ở góc vườn phía đông đã có ai cắm bốn cái cọc tre sơn đỏ ở đầu. Ai đó đã đo đất rồi.
Tôi lấy điện thoại chụp bốn cái cọc, rồi gọi cho bà cô Thắm.
– Cô ơi, cái hòm sắt của ông nội, chú Út có hay mở không cô?
Đầu dây im một lúc lâu.
– Tâm này, cô nói thật. Năm ngoái chú mày mang cái hòm lên xã, ngồi với ông cán bộ địa chính cả buổi chiều. Cô đi chợ qua thấy. Mày đừng dính vào. Chú mày bây giờ to lắm.
— Hết chương 1 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt