Chương 2: Đứa bé quấn dây rốn
Nhà sản phụ là một căn nhà cấp bốn lợp ngói, vách đất, nền cao hơn mặt cồn gần một mét để tránh lũ. Trong buồng có một bà cụ đang đun nước, hai đứa trẻ con ngồi co ro ngoài hiên, và người sản phụ hai mươi sáu tuổi nằm trên tấm phản gỗ, mặt tái nhợt, mồ hôi ướt đẫm tóc.
Tôi rửa tay bằng nước nóng bà cụ đun, đeo găng, khám. Cổ tử cung đã mở hết. Đầu đứa bé đã lọt xuống thấp, nhưng mỗi cơn co, tim thai nghe qua cái ống nghe gỗ lại chậm hẳn đi rồi mới hồi lại. Dấu hiệu dây rốn bị chèn, có thể quấn cổ.
Không có thời gian để đưa sang bờ. Không có phòng mổ. Chỉ có tôi, cái đèn bão, và bà cụ.
– Bà cầm đèn cho cháu. – Tôi nói. – Soi thẳng vào đây.
Tôi hướng dẫn người mẹ rặn theo cơn. Tôi đếm cho chị ấy, như đếm nhịp mái chèo. Một, hai, rặn. Một, hai, nghỉ. Ở cơn rặn thứ năm, đầu đứa bé ra, và đúng như tôi sợ, dây rốn quấn hai vòng quanh cổ, thít chặt. Tôi luồn ngón tay vào, nới vòng thứ nhất qua đầu đứa bé, rồi vòng thứ hai. Cơn co tiếp theo, đứa bé tuột ra trong tay tôi, tím ngắt, không khóc.
Tôi lau miệng mũi cho nó, xoa lưng, búng vào lòng bàn chân. Năm giây. Mười giây. Bà cụ cầm đèn đứng sững, môi lẩm bẩm. Ở giây thứ mười lăm, đứa bé há miệng, khóc ré lên một tiếng như mèo kêu, rồi khóc to dần, đỏ dần.
Người mẹ khóc theo. Anh chồng đứng ngoài cửa buồng, ngồi thụp xuống, ôm mặt.
Lúc chờ rau thai bong, tôi đứng thẳng lưng dậy, nghe bên ngoài. Cồn bãi im phắc, gió đã lặng. Từ phía bến, cách nhà chừng năm chục mét, vọng lên một tiếng kẽo kẹt đều đặn. Tiếng cọc chèo. Kẽo kẹt, rồi nghỉ, rồi kẽo kẹt, đúng cái nhịp tôi đã nghe trên sông. Tôi nhìn qua khe cửa sổ. Dưới ánh trăng, chiếc đò nằm im bên cọc buộc, mệ Huyến ngồi co ro ở mũi đò, hai tay ôm gối, mái chèo của mệ gác ngang khoang. Không ai chèo cả. Mà tiếng kẽo kẹt vẫn đều đặn vọng lên, cho tới khi đứa bé trong buồng khóc thì tắt.
Gần hai giờ sáng, tôi xong việc. Mẹ tròn con vuông, đứa bé trai ba cân hai, được quấn trong cái khăn bông in hình con vịt. Bà cụ, mẹ chồng sản phụ, pha cho tôi ấm chè xanh, rót ra chén, mời tôi ngồi ở hiên.
– Mệ Huyến đưa eng sang à? – Bà hỏi.
– Dạ.
– Có nghe ông chèo phụ không?
Tôi đặt chén chè xuống. Bà cụ cười, cái cười móm mém của người đã biết trước câu trả lời.
– Cả cồn ni ai đẻ đêm cũng nghe. Thằng ni là đứa thứ bao nhiêu rồi, tui không đếm được. Từ năm lũ chín sáu.
Rồi bà kể.
Năm 1996, lũ tháng Mười về giữa đêm. Nước sông Gianh dâng lên ba mét, cồn bãi chìm gần hết. Trên cồn có một chị con dâu người nơi khác, theo chồng về đây làm ăn, bụng chửa vượt mặt, chuyển dạ đúng đêm lũ. Chồng chị đi biển chưa về. Trạm xá bên bờ kia còn sáng đèn. Ông Độ, chồng mệ Huyến, chèo đò sang đón.
Đêm ấy hai vợ chồng chèo chung một đò, mệ mái trái, ông mái phải. Ông chèo chậm hơn mệ một nhịp, xưa nay vẫn thế, mệ hay trêu ông là chèo như người đi đám. Đò đón được chị chửa, quay về. Tới Hói Sâu, một cây gỗ trôi trong lũ đâm ngang mạn. Đò lật.
Mệ Huyến bơi được, bám được vào cái đò úp. Ông Độ ôm chị chửa, bơi giữa dòng xoáy, đẩy chị ấy lên lườn đò, rồi đẩy cả cái đò về phía bờ. Người ta trên bờ ra kéo được đò vào, được chị chửa, được mệ. Không ai thấy ông nữa.
Ba ngày sau, người ta tìm thấy ông ở bãi dưới, tay còn nắm chặt mái chèo bên phải.
– Còn chị đẻ đêm đó?
– Đẻ ngay trên bờ, trong cái lán trạm xá dựng tạm. Đứa con trai. – Bà cụ thở dài. – Mấy tháng sau thì hai mẹ con dọn đi, về quê ngoại tận trong Huế. Nghe đâu chị ấy đặt tên con theo tên ông Độ.
Cái chén chè trong tay tôi run lên, nước sóng sánh ra ngoài.
Mẹ tôi mất năm ngoái, ở Huế. Tôi lớn lên chỉ với mẹ, không biết mặt bố. Từ nhỏ tôi đã được kể rằng tôi sinh năm 1996, trong một đêm lũ, ở bên bờ một con sông ngoài Quảng Bình. Mẹ không bao giờ kể thêm. Mỗi lần tôi hỏi vì sao tên tôi là Độ, mẹ chỉ bảo: "Tên của một người tốt."
Tôi đã cho rằng đó là một câu trả lời cho qua chuyện. Tôi nhớ ra những điều khác, những điều nhỏ mà hồi ấy tôi không để ý. Mẹ sợ sông. Ở Huế, nhà tôi cách sông Hương có mấy trăm mét, vậy mà hai mươi chín năm mẹ không một lần đi thuyền rồng, không một lần cho tôi xuống bến tắm. Mỗi năm vào rằm tháng Mười, mẹ mua một bó hương, đi bộ ra bờ sông, cắm xuống bãi cỏ, đứng đó rất lâu rồi về. Tôi hỏi, mẹ bảo thắp cho một người quen. Mẹ không nói người quen ấy là ai.
Rằm tháng Mười. Đêm nay là đêm rằm tháng Mười.
Gần bốn giờ, tôi dặn dò lần cuối, chào bà cụ. Anh chồng sản phụ cầm đèn tiễn tôi ra bến. Đi được nửa đường, anh ngập ngừng hỏi:
– Bác sĩ cho em xin cái tên. Em đặt cho thằng cu.
– Đừng đặt tên tôi. – Tôi đáp, nhanh hơn tôi muốn. – Anh chị đặt tên gì cho nó vui là được.
Anh ta gãi đầu, cười, bảo vậy thì đặt là Cồn, cho nhớ chỗ đẻ.
Bốn giờ sáng, chúng tôi ra tới bến. Mệ Huyến vẫn ngồi ở mũi đò, y như lúc tôi để mệ lại, cái đèn bão đã tắt. Mệ không nhìn tôi, chỉ cởi dây đò, cầm mái chèo.
Đò ra giữa sông. Mái chèo của mệ khua nước. Một, hai. Rồi tiếng mái chèo thứ hai, chậm một nhịp. Một, hai, ba.
Tới Hói Sâu, tiếng mái chèo thứ hai ngừng. Mệ cũng ngừng, cúi đầu như lúc nãy. Nhưng khi mệ chèo tiếp, tiếng mái chèo thứ hai không vang lên nữa.
Chiếc đò bắt đầu xoay. Chậm thôi, nhưng không dừng, như có một bàn tay khổng lồ dưới đáy sông đang vặn cái đò quanh một trục. Mệ chèo mạnh hơn, rồi mạnh hơn nữa. Đò vẫn xoay tròn giữa vùng nước đen phẳng lì ấy, và dưới mạn đò, nước bắt đầu xoáy thành vòng.
— Hết chương 2 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe