Chương 2: Nóc tủ
Tôi trèo lên ghế thay Bống. Nóc cái tủ gỗ lim ba buồng cao hơn đầu tôi một chút, mặt gỗ phẳng, sẫm màu. Tôi đặt đèn pin nằm hẳn xuống mặt gỗ, bật lên, cho vệt sáng chạy là là.
Ở đó có một cái hình chữ nhật. Dài chừng bốn mươi phân, rộng chừng hai lăm. Xung quanh nó, bụi dày như một lớp nhung xám, phủ kín cả mặt tủ, dồn thành gờ ở mép tường. Trong lòng hình chữ nhật, bụi mỏng hơn hẳn, chỉ một lớp sương tro nhạt, nhưng không sạch. Bốn góc hình chữ nhật có bốn vết tròn nhỏ hơi lõm, dấu chân của một cái hộp có chân.
Hưng đứng dưới, ngửa cổ lên.
– Đấy, thấy chưa! Vết hộp còn đây. Các cô lấy rồi chứ còn gì.
– Bọn em vào nhà lúc tám giờ sáng nay – tôi nói. – Mới hai tiếng.
– Hai tiếng thì giấu được chục cái hộp.
Anh ta rút điện thoại, bấm số, giọng to lên ngay: alô, công an phường à, tôi báo mất trộm, nhà bà tôi, có ba đứa con gái dọn nhà thuê, mất hộp vàng. Rồi anh ta đọc địa chỉ, rành rọt từng chữ, mắt không rời khỏi tôi.
Anh Quang đứng ở cửa phòng trong, hai tay buông xuôi. Anh Quang cao một mét tám, có thể nhấc bổng cái tủ lim này lên nếu cần, nhưng tôi biết anh sẽ không bước thêm bước nào trừ khi tôi gật đầu. Tôi lắc đầu. Bống đứng nép vào tường, ôm cái máy ảnh vào ngực như ôm một đứa trẻ.
– Bống – tôi nói. – Ảnh đầu tiên em chụp phòng trong lúc mấy giờ?
– Dạ… tám giờ mười hai.
– Ảnh nóc tủ lúc nãy em chụp là ảnh thứ mấy?
– Dạ ảnh thứ… bốn mươi mốt. Mười giờ kém năm.
– Em có chụp nóc tủ lúc tám giờ không?
Bống im một lúc. Rồi con bé lắc đầu, mắt đỏ lên. Lúc tám giờ, nó chụp phòng trong theo từng góc, đúng quy trình, nhưng không trèo lên ghế. Nóc tủ cao quá.
Hưng nghe hết. Anh ta cười một tiếng ngắn, cái cười của người vừa thấy con bài mình cần.
Hai mươi phút sau, một cán bộ công an phường lên tới. Anh còn trẻ, đeo khẩu trang, xưng tên là Tạ Quốc Khánh, đi cùng một anh dân phòng. Anh Khánh nghe Hưng kể, nghe tôi kể, rồi xin xem hợp đồng dịch vụ của chúng tôi, xin số điện thoại chị An. Anh gọi cho chị An ngay trước mặt mọi người. Chị An bảo có biết mẹ có một cái hộp sơn mài, không biết bên trong có gì, không biết mẹ hứa cho ai cái gì. Giọng chị qua loa điện thoại nghe rất xa, như vọng từ một cái giếng.
– Chị An ơi – tôi nói to vào máy. – Chị có tin bọn em không?
Đầu dây bên kia im một lúc. Tôi nghe tiếng máy đo nhịp tim tít tít ở đâu đó trong phòng bệnh nhi.
– Em không biết chị – chị An nói. – Em xin lỗi.
Anh Khánh cúp máy. Anh nói sẽ lập biên bản ghi nhận sự việc, đề nghị đội dọn dẹp tạm dừng công việc, không mang bất cứ thứ gì ra khỏi căn hộ, ba người chúng tôi để lại đồ cá nhân cho kiểm tra nếu đồng ý. Chúng tôi đồng ý. Anh dân phòng lục ba cái ba lô, cái túi dụng cụ, cái xe đẩy hàng của anh Quang. Không có hộp nào.
– Giấu chỗ khác rồi – Hưng nói. – Đưa xuống xe từ trước.
– Anh Khánh – tôi nói. – Anh cho em hai phút. Em chỉ anh xem cái này. Anh trèo lên ghế giùm em.
Anh Khánh nhìn tôi một lúc, rồi trèo lên. Tôi đưa cái đèn pin cho anh, chỉ anh cách đặt nó nằm sát mặt gỗ.
– Anh nhìn trong lòng cái hình chữ nhật. Có bụi không anh?
– Có. Mỏng.
– Nếu sáng nay bọn em nhấc cái hộp đi, thì chỗ đó phải sạch trơn. Mặt gỗ trần, bóng. Hai tiếng thì bụi chưa kịp rơi xuống đủ để thành lớp. Anh lấy ngón tay quẹt thử một đường ở chỗ đó, rồi quẹt một đường ở chỗ bên ngoài.
Anh Khánh làm theo. Hai vệt ngón tay hiện lên dưới vệt sáng. Bên ngoài, đầu ngón tay anh xám đen. Bên trong, chỉ hơi mờ.
– Giờ anh trèo xuống, sang cái bàn đầu giường – tôi nói.
Cái bàn đầu giường bà Phấn là một cái bàn gỗ nhỏ, có ngăn kéo, đặt sát cạnh giường. Tôi rọi đèn. Trên mặt bàn có một lớp bụi mỏng như sương, mịn đều, và một cái vòng tròn của cái cốc uống nước đã được ai đó cầm đi.
– Cái bàn này – tôi nói – có người lau hằng ngày cho tới hôm bà được đưa đi viện. Anh nhìn tấm khăn lau còn vắt trên thành giường kia. Ai đó ngày nào cũng ngồi đây bón cháo cho bà, lau bàn, lau cốc. Từ hôm bà đi viện tới giờ là mười hai ngày, không ai lau nữa. Bụi trên bàn này là bụi mười hai ngày.
Anh Khánh nhìn mặt bàn, rồi nhìn lên nóc tủ.
– Trên nóc tủ, trong lòng cái hình chữ nhật, bụi dày hơn cái bàn này chừng gấp đôi – tôi nói. – Em không dám nói chính xác từng ngày, bụi không phải đồng hồ. Nhưng em làm nghề năm năm, em dám nói cái hộp đã rời khỏi nóc tủ từ trước khi bà đi viện. Lâu hơn mười hai ngày. Có thể ba tuần, có thể hơn. Hồi đó bà còn nằm ở nhà, còn sống. Còn bọn em, sáng nay mới cầm chìa khóa của chị An mở cửa.
Hưng bật cười, nhưng lần này tiếng cười ngắn hơn.
– Bụi với chả bặm. Ai tin.
– Anh không cần tin em – tôi nói. – Bên công an có người giám định được. Bụi trên nóc tủ còn đó, em không lau.
Anh Khánh trèo xuống ghế. Anh nhìn Hưng một lúc lâu, cái nhìn của người làm nghề đang xếp lại các mảnh. Rồi anh hỏi một câu rất bình thường:
– Anh Hưng, lần gần nhất anh lên thăm bà là khi nào?
Hưng mở miệng, rồi đóng lại. Ngoài cửa, ở chiếu nghỉ cầu thang, có tiếng dép lẹp xẹp dừng lại. Một bà cụ tóc bạc búi cao, áo bà ba nâu, tay cầm cái làn nhựa đựng mớ rau muống, đứng nhìn vào trong. Bà là người ở căn đối diện. Tôi đã gặp bà sáng nay, khi bà mở cửa nhìn chúng tôi khiêng thùng các tông lên, không nói gì, rồi đóng cửa lại.
— Hết chương 2 —

🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe