Chương 1: Mũi khoan thứ nhất
Bảy giờ sáng Chủ nhật, tôi đang bón cháo cho bà nội thì bức tường cạnh đầu giường bà rung lên, rồi một mũi khoan sắt thò ra, quay tít, phun bụi vôi vào bát cháo.
Bà tôi tám mươi bảy tuổi, tai nghễnh ngãng, mắt mờ một bên. Vậy mà bà nhìn thấy mũi khoan trước tôi. Bà không hét. Bà đặt cái thìa xuống, với tay lên nóc tủ đầu giường, lấy cái nút chai của bình rượu nếp cái hoa vàng bà ngâm từ Tết, và đợi. Mũi khoan rút về phía bên kia. Bà ấn cái nút chai vào lỗ, xoáy hai vòng, chặt như đóng đinh.
– Thằng nhà bên đấy, – bà nói. – Con lão Khải.
Nhà tôi ở phố Hàng Sắt, Nam Định, một căn nhà ống ba mét hai mặt tiền, sâu mười tám mét, chung tường với nhà ông Khải bên trái. Ông Khải mất từ tháng Ba. Nhà ông đóng cửa bảy tháng, then cài, cửa sắt hoen rỉ, chỉ có con mèo mướp của bà Thơm đầu phố hay nằm trên bậc thềm. Ba hôm trước tôi thấy có xe tải chở xi măng tới, có tiếng búa, tiếng máy cắt gạch. Tôi đoán người nhà ông về sửa để bán. Tôi không ngờ người ta sửa bằng cách khoan thủng vào giường bà tôi.
Tôi ba mươi mốt tuổi, làm kế toán thuê cho bốn cửa hàng trên phố, ngồi nhà cả ngày với cái máy tính và bà. Tôi không phải người hay cãi nhau. Nhưng bát cháo trắng ấy tôi đã ninh từ năm giờ sáng, cho thêm thịt nạc băm và hành, mà bà tôi dạo này một ngày ăn được đúng một bát.
Tôi bưng cả bát cháo sang nhà bên.
Cửa sắt mở một nửa. Trong nhà tối, bụi vôi bay lơ lửng trong vệt nắng. Một người đàn ông đứng trên cái thang nhôm, tay cầm máy khoan, đeo khẩu trang, đầu đội mũ lưỡi trai quay ngược. Anh ta nghe tiếng dép tôi thì quay lại.
– Anh khoan thủng sang nhà tôi rồi, – tôi nói, giơ bát cháo lên. – Đây là cháo của bà tôi. Bụi vôi nhà anh đây.
Anh ta nhìn bát cháo, nhìn tôi, rồi nhìn bức tường. Anh kéo khẩu trang xuống. Mặt anh gầy, cằm có râu lún phún, mắt trông ngủ thiếu.
– Thủng á? – anh nói, giọng nửa Bắc nửa Nam, kiểu người đi xa lâu. – Tường này là tường hai mươi mà chị. Tôi khoan có tám phân để bắt vít nở.
– Tường mười, – tôi nói. – Một hàng gạch. Bên này là giường bà tôi.
Anh ta leo xuống thang, đi lại gần tường, ghé mắt vào cái lỗ vừa khoan. Rồi anh lùi lại một bước.
– Sao lại có cái nút chai?
– Bà tôi bịt.
Anh im một lúc. Tôi thấy hai vai anh rung rung. Anh đang cố không cười.
– Anh cười cái gì?
– Không, – anh nói, mặt đỏ lên. – Xin lỗi chị. Tôi đền bát cháo. Tôi đền cả công trát lại. Chị cho tôi xin số tài khoản.
Tôi định nói số tài khoản thì từ phía bên kia tường, qua cái lỗ, giọng bà tôi vọng sang, khàn mà to:
– Có phải thằng Nhượng đấy không? Thằng hay trèo tường ăn trộm ổi nhà bà?
Anh ta đứng thẳng người như bị gọi tên lúc chào cờ.
– Dạ, – anh nói vọng vào cái lỗ. – Dạ, cháu Nhượng đây bà ạ.
– Lớn tướng rồi còn phá nhà người ta. Sang đây.
Anh nhìn tôi. Tôi nhìn anh. Tôi chưa từng gặp anh. Tôi về ở với bà năm mười lăm tuổi, khi bố mẹ tôi chuyển vào Đà Lạt làm ăn, còn bà nói thằng Nhượng con ông Khải theo mẹ vào Sài Gòn từ năm mười bốn. Hai đứa trượt nhau bốn năm. Tôi chỉ biết anh qua lời bà, qua cái cây ổi ở sân sau đã chết từ lâu, và qua một câu bà hay nói mỗi lần ông Khải sang chơi: "Thằng con ông ngày xưa ăn ổi xanh đau bụng cả tuần, có nhớ không?"
Nhượng sang. Anh đứng ở chân giường bà tôi, hai tay chắp trước bụng, cúi đầu nghe bà mắng mười phút. Bà mắng chuyện khoan tường, chuyện hai mươi năm không về thăm, chuyện đám tang ông Khải anh về muộn hai ngày. Anh không cãi câu nào. Bà mắng xong, bảo tôi đi nấu cho anh một bát cháo.
– Nó đền cháo cho bà, – bà nói, – thì bà cũng phải mời nó lại một bát. Có đi có lại.
Tôi nấu. Anh ăn. Bà ngồi xem anh ăn như xem cháu mình ăn. Tôi đứng ở cửa bếp, khoanh tay, nghĩ xem mình đã thua cuộc cãi này từ lúc nào.
Lúc về, anh dừng lại ở cửa, chỉ vào cái nút chai trên tường.
– Hôm nào tôi mua xi măng trát lại cho chị.
– Không được, – bà tôi nói từ trên giường. – Để đấy.
– Bà để làm gì ạ? – tôi hỏi.
– Để bà gọi nó.
Tôi tưởng bà nói đùa. Bà tôi không đùa bao giờ.
Chiều hôm ấy, tôi đang ngồi gõ bảng lương cho cửa hàng điện máy thì nghe bà rút cái nút chai ra, ghé miệng vào lỗ, gọi một tiếng: "Nhượng ơi!" Bên kia có tiếng dạ. Bà bảo: "Ra đầu phố mua bà gói xôi lạc, tiền bà gửi con Điệp." Anh ra mua thật. Mười phút sau anh gõ cửa nhà tôi, tay cầm gói xôi lạc còn nóng, nói với tôi rất nghiêm túc: "Bà đặt hàng qua cổng sau."
Tôi đóng cửa vào mặt anh. Rồi tôi mở ra, trả anh mười lăm nghìn tiền xôi. Anh không lấy. Tôi nhét vào túi áo anh.
Tối đó, lúc tôi đi đổ rác, tôi nghe trong nhà ông Khải có tiếng người lạ. Một giọng đàn ông khàn khàn nói to:
– Phá cả. Phá hết ra xây sáu tầng, tầng một cho thuê bán hàng, năm tầng trên làm phòng trọ. Mặt tiền ba mét hai mà đất phố này giờ bao nhiêu tiền một mét, mày tính đi.
Tiếng Nhượng trả lời nhỏ, tôi không nghe rõ.
Giọng kia lại nói:
– Bức tường chung ấy à? Phá. Xây lại tường mới, móng mới. Bên kia có bà già với con bé, đưa cho nó ít tiền là xong.
Tôi đứng im ở cửa, tay còn xách túi rác. Tường ấy mà phá thì nhà tôi chỉ còn ba bức tường.
— Hết chương 1 —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình