Chương 2: Bốn tờ giấy kẻ ô
Đêm đó, Nhung ngồi dưới gầm cầu thang, chỗ ngày xưa bà Đoan hay ngồi chẻ cói, đọc hết lá thư bằng ánh đèn pin điện thoại.
Mẹ viết: con đừng giận mẹ bảy cái chiếu. Ngày mẹ về làm dâu nhà này, bà nội của thằng Quang bắt mẹ tháo chiếu mười một lần. Mẹ hận bà mười năm. Đến năm bà mất, mẹ mới hiểu bà sợ cái gì. Bà sợ cái xưởng này rơi vào tay người không biết dệt. Người không biết dệt thì không biết thương lái nói dối chỗ nào, không biết cói nhuộm ẩu thì sang mùa nồm sẽ mốc. Mẹ cũng sợ y như thế. Mẹ không biết cách nào khác để dạy con ngoài cách bà dạy mẹ. Mẹ xin lỗi con vì mẹ không nghĩ ra cách nào tử tế hơn.
Nhung đọc câu xin lỗi ấy ba lần. Rồi cô úp tờ giấy lên ngực, ngồi im rất lâu, nghe tiếng ếch dưới ao cói.
Mẹ viết tiếp, ở tờ thứ hai: chị Loan con không xấu. Năm nó về làm dâu, mẹ bắt nó ra khỏi xưởng không phải vì nó dệt kém. Nó dệt được, nhưng nó không chịu được ngồi. Nó giỏi ăn nói, giỏi bán hàng. Mẹ cho nó ra chợ Phát Diệm, mười hai năm nay nó bán được cho xưởng bao nhiêu đơn, mẹ đều ghi. Mẹ chưa từng nói với nó. Đấy là cái dại của mẹ. Mẹ dạy con bằng cách bắt tháo chiếu, mẹ dạy nó bằng cách im lặng. Cả hai cách đều làm hai đứa ghét mẹ.
Tờ thứ ba thì khác. Không có chữ nào về tình cảm. Chỉ có những con số, viết thẳng hàng như sổ sách.
Xưởng đang vay ngân hàng ở huyện ba trăm triệu, vay năm ngoái để mua sáu khung dệt mới và làm lại mái. Còn nợ thương lái Hải Phòng một trăm hai mươi triệu tiền cói nguyên liệu, mẹ hẹn trả sau khi giao đơn hàng tháng Chín. Đơn hàng đi Nhật hai nghìn tấm chiếu hoa văn, hợp đồng do chị Loan con ký với công ty xuất khẩu ở Hà Nội, có điều khoản phạt nếu giao chậm. Hạn giao: ngày hai mươi tháng Chín. Hôm mẹ viết thư này mới xong bảy trăm tấm.
Rồi đến dòng cuối cùng của tờ thứ ba: mẹ để xưởng cho con không phải vì mẹ thương con hơn. Mẹ để cho con vì cái xưởng này bây giờ là một món nợ, mà trong nhà chỉ có con gánh được món nợ ấy bằng đôi tay. Nhà thì sạch, không nợ ai. Mẹ để nhà cho thằng Thịnh để nó với con Loan có chỗ đứng chắc. Mẹ không viết những con số này vào di chúc, vì mẹ sợ cả làng biết xưởng nợ thì thương lái sẽ ép giá. Con biết là đủ.
Tờ thứ tư chỉ có hai dòng: con muốn làm gì với lá thư này thì làm. Nhưng con đừng để chị em dâu thành người dưng vì cái xưởng của mẹ.
Nhung gấp bốn tờ giấy lại. Ngoài cửa sổ, trời đã sáng mờ. Cô nghe tiếng chị Loan dậy nhóm bếp, tiếng nồi nhôm va vào nhau.
Cô lấy điện thoại, chụp lại từng tờ, gửi cho chính mình. Rồi cô đi vào xưởng, mở cái tủ sắt bà Đoan vẫn khoá, tìm đúng tập hợp đồng vay ngân hàng, tập hoá đơn nợ cói, và bản hợp đồng xuất khẩu có chữ ký của chị Loan. Tất cả đều nằm đúng chỗ, theo đúng thứ tự bà đã ghi trong thư.
Sáng hôm ấy, Nhung không đi dệt. Cô ngồi ở bàn tính, đếm lại số chiếu đã xong. Bảy trăm bốn mươi ba tấm. Còn hai mươi hai ngày. Mười hai khung dệt, nhưng chỉ có năm thợ, vì từ hôm bà mất, ba người thợ đã nghỉ, nghe đồn xưởng sắp bị chia.
Cô làm phép tính trên giấy. Nếu không có thêm người, không kịp.
Cô nghĩ rất lâu về chuyện có nên đưa lá thư cho chị Loan đọc không. Đưa ra thì mọi chuyện rõ ngay, chị Loan sẽ biết mẹ ghi công chị, sẽ biết xưởng nợ, sẽ thôi nói câu dỗ ngọt. Nhưng lá thư cũng có câu mẹ xin lỗi Nhung, có câu mẹ hận bà nội mười năm, có câu mẹ tự nhận mình dại. Đó là những câu mẹ chồng cô viết cho riêng cô, viết bằng cái giọng bảy năm bà chưa từng dùng khi còn sống. Đem nó ra giữa gian nhà cho cả họ chuyền tay nhau đọc thì cũng như tháo một tấm chiếu bà đã dệt xong. Nhung quyết định chỉ đưa ra những gì là giấy tờ. Những gì là của mẹ, cô giữ.
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt