Chương 2: Hạt cơm trên mép phong bì
Bản Nà Khoang giờ không còn ai tên Nông Thị Lành. Một bà cụ ngồi vót nan bên bếp lửa nhớ ra: con gái út nhà ông Nông Văn Cảnh, lấy chồng về Thất Khê từ năm chín sáu, ngay sau Tết, đám cưới vội lắm.
Diệp mất thêm hai ngày nữa mới tìm được đúng người. Ở Thất Khê có ba bà Lành, cùng tuổi xêm xêm, cùng họ Nông. Bà thứ nhất bán vịt quay, nói chưa từng ở Đồng Đăng. Bà thứ hai đã mất. Bà thứ ba ở một căn nhà sàn cuối thị trấn cũ, có cái sân gạch trồng mấy khóm hoa cúc vàng.
Khi Diệp tới, bà đang ngồi ở hiên gói một gói hạt dẻ rang để gửi xe khách xuống Hà Nội cho cháu ngoại. Bà gói bằng giấy báo, gấp vuông vức, rồi nhón một ít cơm nguội trong cái bát men bên cạnh, miết lên mép giấy bằng đầu ngón tay cái, ấn chặt.
Diệp đứng ở bậc thang, nhìn những hạt cơm bị miết dẹp trên mép giấy. Cô không cần hỏi nữa.
– Cô Lành ơi, cháu là phóng viên báo tỉnh. Cháu muốn hỏi cô về một lá thư cô gửi năm chín sáu.
Bà Lành ngẩng lên. Gói hạt dẻ trong tay bà rơi xuống sàn gỗ, mấy hạt lăn lóc cóc ra mép hiên.
Bà ngồi im rất lâu sau khi nghe Diệp kể về cái tủ chia thư. Bà không khóc. Bà nhặt từng hạt dẻ bỏ lại vào gói giấy báo, chậm rãi, như cần một việc gì đó cho đôi tay làm.
– Tôi cứ tưởng họ đọc rồi, – bà nói. – Tôi tưởng họ đọc rồi mà không tin tôi. Một đứa con gái mười chín tuổi, viết vài dòng không ký tên ai làm chứng. Tôi tưởng họ xé đi.
Tháng Ba năm 1996, Lành viết lá thư ấy trong ba đêm. Cô lén mang ra bỏ vào hòm thư trước cửa bưu điện Đồng Đăng, đúng phiên chợ để không ai để ý. Rồi cô đợi. Một tuần. Hai tuần. Không ai tới hỏi. Tháng Tư, bố cô làm đám cưới cho cô với con trai một nhà buôn gỗ ở Thất Khê, sớm hơn ngày định ba tháng, vì ông nghe người ta xầm xì về cô với thằng Pắng.
– Tháng Tám năm ấy, anh ấy ra toà, – bà Lành nói. – Tôi bảo nhà chồng là đi khám thai, bắt xe về thành phố. Tôi đứng ngoài cổng toà án từ sáng tới trưa. Tôi không dám vào. Lúc người ta dẫn anh ấy ra xe, anh ấy nhìn thấy tôi. Anh ấy lắc đầu. Chỉ lắc đầu thôi, nhẹ lắm. Tôi hiểu ý anh ấy là: em đừng.
– Cô có biết anh Pắng không khai cô ra, cả ba mươi năm nay?
Bà Lành gật đầu.
– Tôi biết chứ. Thế nên tôi càng tưởng lá thư đã đến nơi mà họ không tin. Vì nếu họ tin, họ phải tìm tôi chứ.
Chồng bà mất năm 2019. Bà ở với con gái út. Ba mươi năm, bà chưa một lần quay lại Đồng Đăng.
Diệp hỏi về chiếc xe Minsk xanh có cái đèn hậu buộc chun đỏ. Bà Lành nhắm mắt lại.
– Tôi nhìn rõ lắm. Đêm ấy có trăng. Ông Thìn hay chở hàng thuê bên kia cửa khẩu, cái đèn hậu vỡ vì va vào cột mốc đá, ông lười thay, cứ lấy chun buộc lại. Cả thị trấn ai cũng biết cái xe ấy.
Hồ sơ năm 1996 mà trung tá Hoà xin trích lục từ kho lưu trữ dày gần hai trăm trang. Diệp được phép đọc những phần đã công khai tại phiên toà. Cô ngồi trong phòng tiếp dân của công an xã suốt một buổi chiều, đọc tới đau mắt.
Két sắt hợp tác xã mở bằng chìa, không bị phá. Có hai chìa: một do Pắng giữ, một do kế toán Lục Văn Thìn giữ. Thìn khai đêm đó ngủ ở nhà từ chín giờ, chìa để trong ngăn kéo tủ, vợ xác nhận. Pắng khai đêm đó đi uống rượu với bạn, nhưng không nói được với ai, ở đâu. Khi bị hỏi dồn, anh im lặng. Trong vòng ba tháng sau vụ án, Pắng không tiêu một đồng nào khác thường, nhưng người ta cho rằng anh đã cất giấu. Còn Thìn, theo hồ sơ, không có điều gì đáng nghi.
Diệp lật đến trang cuối của biên bản khám nghiệm hiện trường. Một dòng ghi chú bằng bút chì, có lẽ của cán bộ khám nghiệm ghi thêm: phía tường sau kho, trên nền đất ẩm, phát hiện vết bánh xe máy, gai lốp to, nghi xe phân khối lớn. Đã đối chiếu: xe đạp của đối tượng Pắng không khớp. Chưa xác định được xe nào.
Năm 1996 ở Đồng Đăng, xe máy phân khối lớn đếm trên đầu ngón tay. Không ai đem dòng ghi chú ấy đặt cạnh cái tên Lục Văn Thìn, vì không ai có lý do gì để làm vậy.
Lá thư của Lành là lý do ấy. Và nó đã nằm sau một cái tủ gỗ lim.
– Ông Thìn bây giờ ở đâu anh? – Diệp hỏi trung tá Hoà.
Anh gấp tập hồ sơ lại.
– Mất năm 2018. Năm 1997 ông ấy nghỉ hợp tác xã, mở đại lý vật liệu xây dựng, làm ăn khấm khá. Gia đình còn ở Đồng Đăng.
Sáng hôm sau, trung tá Hoà cùng một cán bộ trẻ đưa bà Lành về bờ sông Kỳ Cùng. Diệp đi theo. Cái lán canh vịt ngày xưa không còn, chỗ đó giờ là một bãi ngô non xanh mướt. Bà Lành đứng giữa bãi ngô, xoay người một vòng, rồi chỉ tay về phía một dãy nhà kho mái tôn cũ.
– Kho hợp tác xã là cái kia. Ngày ấy chưa có mấy cái nhà mới chắn ngang. Tôi đi dọc bờ, qua cái bụi tre kia, rẽ lên con đường đất sau kho.
Bụi tre vẫn còn. Con đường đất giờ đã đổ bê tông. Từ chỗ đó tới bức tường sau kho, Diệp đếm được bốn mươi hai bước chân. Cán bộ trẻ ghi chép, chụp ảnh, đo đạc. Bà Lành đứng ở đầu đường bê tông rất lâu, nhìn bức tường sau kho, như vẫn còn thấy một chiếc xe máy tắt đèn đỗ ở đó dưới ánh trăng.
Buổi chiều, Diệp tìm tới nhà ông Thìn. Đó là một căn nhà ba tầng ốp đá ở mặt đường, tầng dưới vẫn là cửa hàng vật liệu xây dựng. Con trai ông, một người đàn ông ngoài bốn mươi, mặc áo bảo hộ dính xi măng, nghe cô nói xong thì đứng lặng giữa đống bao xi măng chất cao.
– Chị muốn gì ở nhà tôi?
– Em không muốn gì. Em chỉ hỏi chiếc xe Minsk của bác ngày trước còn không.
Anh nhìn cô rất lâu. Rồi anh quay người, dẫn cô ra cái nhà kho phía sau. Dưới một tấm bạt phủ bụi, chiếc Minsk màu xanh đã bạc nằm nghiêng vào vách, lốp xẹp lép. Anh kéo tấm bạt ra. Ở đuôi xe, cái đèn hậu vỡ một góc vẫn được giữ lại bằng một sợi dây chun đã khô cứng, mất màu, chỉ còn phảng phất sắc đỏ.
– Bố tôi không cho ai bán nó, – anh nói. – Không cho sửa, không cho đi. Tôi hỏi thì ông bảo để làm kỷ niệm. Mấy năm cuối, ông hay ra đây ngồi một mình. – Anh ngừng lại, lấy tay áo lau cái đèn hậu. – Tôi không biết gì về chuyện năm ấy. Nhưng nếu các anh công an cần xem cái xe, cứ đến.
Diệp gọi cho trung tá Hoà ngay từ cổng nhà kho.
– Vậy là không còn ai để hỏi nữa hả anh? – cô nói, khi kể xong.
– Còn, – anh nói. – Còn anh Pắng. Anh ấy đã ngồi tù sáu năm cho một việc mà lá thư này nói anh ấy không làm. Người ta có thể không xử được người đã mất. Nhưng người còn sống thì phải được trả lại tên.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám