Chương 1: Lá thư thứ ba
"ÔNG TOẢN. MƯỜI GỐC VẢI LÀ LỜI NHẮC. NĂM TRĂM TRIỆU, TỐI THỨ BẢY, BỎ TRONG THÙNG SƠN Ở CHÂN CỘT ĐIỆN CUỐI DỐC. KHÔNG THÌ CẢ ĐỒI."
Chữ in hoa, từng nét thẳng băng như kẻ bằng thước. Giấy khổ nhỏ, cỡ nửa bàn tay, giấy trắng ngà loại mỏng. Lá thư được nhét vào hòm thư sắt trước cổng nhà ông Giáp Văn Toản vào đêm thứ Hai, như hai lá trước.
Ông Toản năm mươi tám tuổi, có hai mươi mẫu vải thiều trên mấy quả đồi thoai thoải ở Lục Ngạn và một điểm thu mua vải lớn nhất xã, mùa nào cũng thuê hơn chục người cân, đóng thùng, chất xe. Ông đặt ba lá thư lên mặt bàn gỗ trong phòng khách, cạnh ấm chè Thái và đĩa lạc luộc, xếp theo thứ tự ngày nhận.
– Lá thứ nhất tôi tưởng đứa nào trêu. Nó đòi ba trăm. Tôi vứt vào ngăn kéo. – Ông nói, giọng trầm, tay xoa xoa đầu gối. – Lá thứ hai đòi năm trăm, dọa. Tôi vẫn không đưa. Rồi đến sáng thứ Năm tuần trước, ra đồi thì thấy mười gốc vải ở hàng sát đường lá úa vàng cả. Mười gốc, gốc nào cũng hơn hai chục năm tuổi. Bón phân, tưới nước mấy cũng không lại. Người ta đổ thuốc gì xuống gốc.
– Lúc đó bác mới báo công an? – Thượng úy Quách Bảo Trâm hỏi.
– Thì đến lúc ấy mới tin là thật.
Công an tỉnh đã thụ lý từ tuần trước. Đội trưởng đội hình sự, Thiếu tá Thân Văn Kỳ, người Lục Nam, nói giọng Bắc Giang trầm trầm, kéo dài cuối câu, đã đưa ba lá thư đi giám định. Không có dấu vân tay nào rõ ngoài vân tay của ông Toản. Chữ in kẻ bằng thước không thể so nét chữ. Giấy loại thường, mua ở đâu cũng có.
Tổ công tác của Cục Cảnh sát hình sự đang ở trên tỉnh vì một việc khác, một chuyên án về đường dây làm giả chứng chỉ, đã gần xong. Thiếu tá Kỳ nhờ Trung tá Nghiêm Đức Thụ ghé qua một buổi, vì ông nổi tiếng trong ngành với cái biệt tài kỳ quặc là đọc được giấy.
Thụ không nói nhiều. Ông đeo găng, cầm lá thư thứ ba lên, giơ ngược về phía cửa sổ, nghiêng tờ giấy theo nhiều góc. Ánh nắng tháng mười chiếu xiên qua song cửa. Ông nhìn rất lâu.
– Kỳ ơi, cậu có cái đèn pin nhỏ không?
Kỳ đưa cho ông chiếc đèn pin bỏ túi. Thụ đặt lá thư nằm phẳng trên mặt bàn, tắt đèn trần, kéo rèm, rồi chiếu đèn pin thật thấp, gần như sát mặt bàn, rọi xiên qua bề mặt giấy.
Trên mặt sau của tờ giấy, ở khoảng trống không có chữ in hoa, hiện lên những đường hằn rất mờ. Không phải mực. Là vết lún của nét bút từ một tờ giấy khác từng đặt bên trên. Những con số. Một dãy dọc, như cột tính tiền.
– Đây là giấy xé từ một cuốn sổ. – Thụ nói. – Người ta viết lên tờ phía trên, bút tì mạnh, hằn xuống tờ phía dưới. Rồi người ta xé tờ phía dưới ra để viết thư.
Trâm cúi sát xuống. Dưới ánh đèn xiên, cô đọc được từng chữ một, rất chậm.
– Ngày mười bốn tháng Sáu... Ngô Thị... Lụa. Bốn trăm hai mươi bảy cân. Đơn giá... ba mươi hai nghìn... – Cô ngẩng lên. – Anh Thụ, đây là phiếu cân vải.
Ông Toản nhổm người dậy khỏi ghế.
– Bà Lụa ở thôn Hạ. Năm nào bà cũng bán vải cho tôi.
– Mười bốn tháng Sáu là giữa vụ vải năm nay. – Kỳ nói, giọng chậm lại. – Phiếu cân của điểm thu mua nhà bác?
– Của nhà tôi. – Ông Toản nói. – Tôi in phiếu đóng thành sổ, mỗi sổ năm mươi tờ, đánh số sẵn. Người cân viết phiếu, xé một liên đưa cho người bán, giữ cuống. Cái loại giấy này đây, giấy mỏng, trắng ngà. Tôi đặt in ở Bắc Giang.
Căn phòng im lặng. Ngoài sân, con chó vàng ngóc đầu dậy sủa một tiếng rồi lại nằm xuống.
– Mùa vải này, những ai viết phiếu cân ở điểm thu mua nhà bác? – Thụ hỏi.
Ông Toản đếm trên đầu ngón tay.
– Hai người. Thằng Hiệp, con rể tôi. Với thằng Đông, cháu tôi.
— Hết chương 1 —
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám