Chương 2: Hai người cân vải
Thân Đức Hiệp ba mươi lăm tuổi, lấy con gái lớn của ông Toản đã mười năm. Anh đi lao động ở Séc sáu năm, về nước năm ngoái, mở một điểm thu mua vải nhỏ của riêng mình ở xã bên, làm ăn không thuận. Mùa vải năm nay anh lỗ, phải về phụ bố vợ cân vải mấy tuần cuối vụ. Anh nợ ông Toản hai trăm triệu, vay để trả tiền thuê kho lạnh.
Giáp Văn Đông hai mươi hai tuổi, con trai của người em trai ông Toản đã mất vì tai nạn khi Đông mới lên mười. Ông Toản nuôi nó từ đó. Đông ở với gia đình ông, làm ở điểm thu mua quanh năm, mùa vải thì cân, ngoài mùa thì chăm vườn, phun thuốc, bón phân.
Trâm và Kỳ gặp Hiệp ở điểm thu mua của anh, một cái lán mái tôn rộng ở ven quốc lộ, giờ trống trơn vì hết vụ, chỉ còn mấy chồng thùng xốp và một cái bàn cân bàn bám bụi. Hiệp gầy, nói nhanh, hút thuốc liên tục.
– Em nợ ông cụ thật. Em đang trả dần. Em có khốn nạn đến mức đi tống tiền bố vợ đâu chị.
– Anh có biết ai muốn hại bác Toản không?
– Làm vải ở đây, cạnh tranh nhau giá mua thì có. Nhưng đến mức đổ thuốc chết cây thì em không biết.
Trâm xin số điện thoại của anh để tiện liên lạc. Hiệp với lấy cái bút bi trên bàn, xé một mẩu giấy từ quyển lịch bloc, viết số. Trâm cầm mẩu giấy lên. Số điện thoại có hai chữ số bảy. Cả hai đều có một gạch ngang ở giữa thân, kiểu viết của người châu Âu.
– Anh viết số bảy lạ ghê. – Cô nói, như nói chuyện bâng quơ.
Hiệp cười.
– Sáu năm bên Séc, chị ạ. Bên ấy viết thế, không gạch thì người ta đọc thành số một. Quen tay rồi, sửa không được.
Buổi chiều, Thụ và Trâm gặp Đông ở ngoài đồi. Cậu đang tỉa cành vải, đội cái mũ cối cũ, áo bảo hộ lao động bạc màu. Cậu cao, gầy, mặt còn trẻ con, ít nói. Cậu xuống thang khi thấy họ, đứng lễ phép, hai tay để trước bụng.
– Cháu không biết gì đâu ạ. Cháu nghe chú cháu kể thôi.
– Cháu cân vải mùa này à?
– Dạ. Cháu cân ở bàn ngoài, anh Hiệp cân ở bàn trong.
– Cháu nghĩ ai có thể làm chuyện này?
Đông im lặng một lúc, mắt nhìn xuống đôi ủng lấm đất đỏ.
– Cháu không dám nói ạ. Nhưng anh Hiệp nợ chú cháu nhiều tiền. Tháng trước chú cháu với anh Hiệp cãi nhau to, chú cháu bảo cuối năm không trả thì đưa nhau ra tòa.
Thụ gật đầu, cảm ơn, rồi hai người đi xuống dốc. Đi được một đoạn, ông dừng lại bên mười gốc vải chết khô ở hàng sát đường. Lá vàng úa rụng đầy gốc, cành khẳng khiu chĩa lên trời như những bàn tay. Đất quanh gốc còn loang một màu khác hẳn đất bên cạnh.
– Người đổ thuốc biết đổ vào đâu, đổ bao nhiêu, đổ lúc nào không ai thấy. – Thụ nói. – Biết hàng nào sát đường để chủ vườn nhìn thấy ngay.
– Người làm vườn. – Trâm nói.
– Người làm vườn. Hoặc người ngày nào cũng ra đồi.
Tối hôm đó, ở phòng làm việc của công an xã, Trâm trải lên bàn hai thứ. Một là bản ảnh chụp vết hằn trên lá thư thứ ba, chụp bằng máy ảnh kỹ thuật dưới ánh sáng xiên, độ tương phản đã được kỹ thuật viên chỉnh lên. Hai là mẩu giấy ghi số điện thoại của Hiệp.
Trong vết hằn, dòng "bốn trăm hai mươi bảy cân" có một chữ số bảy. Dòng đơn giá cũng có một số bảy khác, ở phần tiền thành. Cả hai số bảy trên vết hằn đều trơn, không có gạch ngang.
– Người viết phiếu cân của bà Lụa không phải anh Hiệp. – Trâm nói.
Kỳ nhíu mày.
– Người ta có thể cố tình viết khác đi.
– Viết thư nặc danh thì người ta cố tình. – Thụ nói. – Còn viết phiếu cân giữa mùa vải, ba trăm phiếu một ngày, người bán đứng chờ, xe đang đợi, thì ai lại cố tình. Lúc ấy tay viết theo thói quen. Thói quen của anh Hiệp là gạch ngang số bảy.
– Vậy thì...
– Vậy thì mình xem lại cuống phiếu. Ông Toản bảo phiếu đánh số sẵn, người cân giữ cuống. Sổ của ai thiếu một tờ, có cuống của bà Lụa ngày mười bốn tháng Sáu mà tờ ngay sau đó bị xé mất, thì đó là sổ của người viết thư.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe