Chương 1: Ba trăm hai mươi mét
Bây giờ.
Con bé Sóc nhảy xuống khỏi xe máy trước cả khi Yến kịp tắt máy, chạy thẳng ra con đường đal dọc bờ rạch, giẫm lên mấy tàu dừa khô kêu rộp rộp.
– Mẹ ơi, đường này mẹ làm hả?
– Mẹ với mười ba cô chú nữa.
– Sao nó cong?
Yến không trả lời liền. Cô đứng ở đầu con đường, nhìn nó chạy dọc theo con rạch, thẳng tắp gần ba trăm mét, rồi tới đoạn cuối thì uốn một khúc như cánh tay ai vòng ra ôm lấy một cái gốc cây lớn, sau đó mới thẳng lại, đi về phía trường tiểu học. Cây vú sữa vẫn còn đó, tán xòe kín một góc trời, lá mặt trên xanh đậm, mặt dưới vàng như ai rắc bột nghệ.
Mười một năm trước.
Đội hình chiến dịch mùa hè xanh của khoa Xây dựng về xóm này vào ngày mười hai tháng Bảy, đi xe khách từ bến Miền Tây xuống bến xe Bến Tre, rồi chuyển qua xe tải nhỏ của xã chở vô. Mười bốn đứa, mười hai trai hai gái, ba lô, chiếu, mùng, một cái loa kẹo kéo và hai thùng mì gói. Đội trưởng là anh Tài năm tư. Yến năm ba, đội phó phụ trách kỹ thuật, vì trong đội chỉ có cô từng đi phụ việc ở công trường của cậu ruột.
Nhiệm vụ ghi trong kế hoạch rất gọn: ba trăm hai mươi mét đường bê tông rộng một mét rưỡi, dày mười phân, thay con đường đất dọc bờ rạch từ ngã ba ra tới trường. Mùa mưa, đường đất nhão như bột, học trò đi học té xuống ruộng, có đứa té xuống rạch. Xã hỗ trợ xi măng, đá, cát. Người dân góp công và hiến đất mép vườn để mở rộng lối đi. Đội lo phần trộn, đổ, đầm, tưới.
Không có máy trộn. Xã chỉ cho mượn được ba cái xe rùa, năm cây xẻng, một cái máy đầm bàn chạy xăng hay tắt giữa chừng. Bê tông trộn tay trên một tấm tôn trải ngay giữa đường: cứ một bao xi măng, hai thùng sơn cát, bốn thùng sơn đá, xới đều cho tới khi màu xám ngả đều, rồi mới khoét lỗ giữa đổ nước. Yến đứng cầm cái thùng sơn đong, đếm to từng thùng như quản ca bắt nhịp. Mười giờ sáng nắng đã rát gáy. Tay cô phồng hai bóng nước sau buổi đầu, tối về trích bằng cây kim may, sáng hôm sau quấn băng keo cầm xẻng tiếp. Tối tới, mấy đứa con gái trong xóm kéo tới nhà văn hóa nhờ dạy toán, mấy đứa con trai thì nhờ dạy đá banh, mà dạy đá banh thì sinh viên thua sạch.
Ba ngày đầu suôn sẻ. Nhà nào cũng ra dọn hàng rào, chặt bụi chuối, dời đống củi. Có bà còn đem ra một thau chè đậu xanh nước cốt dừa, múc cho mỗi đứa một chén, bắt ăn hết mới cho làm tiếp. Tới ngày thứ tư, căng dây tới nhà cuối cùng thì đụng ông Ba Ngộ.
Nhà ông Ba nằm sát trường, một cái nhà lá cột gỗ, mái lợp tôn một nửa, vườn trồng dừa, vài bụi chuối và một cây vú sữa lò rèn lớn mọc ngay mép rạch. Gốc cây sát đường đất tới mức muốn mở đủ một mét rưỡi thì phải chặt bớt rễ, đốn mấy nhánh chĩa ra, có khi phải đốn luôn cây cho đường đi thẳng. Anh Tài đem bản vẽ tới, giải thích. Ông Ba nghe hết, không hỏi câu nào, rồi đi vô nhà, đi ra, tay cầm cây dao phay.
– Đứa nào đụng tới cây này thì đụng tới tao trước.
Ông nói không lớn tiếng. Ông bảy mươi mốt tuổi, gầy, da đen như gỗ lim, cởi trần, quần xà lỏn, đứng chắn giữa lối đi. Cây dao ông không giơ lên, chỉ cầm buông theo tay. Nhưng không ai dám bước tới.
Tối đó cả đội họp ở nhà văn hóa ấp. Mấy đứa con trai bực bội. Đứa nói ông già khó, đứa nói ông già ích kỷ, cả xóm hiến đất mà một mình ông giữ cây. Có đứa đặt luôn cho ông cái tên "ông Ba Ngộ Nghĩnh", cả đội cười rần. Anh Tài nói thôi để mai nhờ ông trưởng ấp qua nói. Ông trưởng ấp qua nói, bị ông Ba đuổi về. Bí thư xã qua, ông Ba mời uống trà, uống xong vẫn lắc đầu.
Còn Yến, cô nằm trong mùng nghe muỗi vo ve, mở cuốn sổ tay ra vẽ lại cái khúc đường cuối. Cô biết cách làm cho đường đi vòng qua gốc cây. Chỉ có điều vòng như vậy thì đường dài thêm gần hai chục mét, tốn thêm cỡ ba mươi, bốn mươi bao xi măng, mà xã đã cấp đủ số đếm từng bao.
— Hết chương 1 —

🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường